Đề Xuất 2/2023 # Ngộ Độc Cấp Thuốc Diệt Chuột Trung Quốc Và Nguyên Nhân # Top 8 Like | Missvnuk.com

Đề Xuất 2/2023 # Ngộ Độc Cấp Thuốc Diệt Chuột Trung Quốc Và Nguyên Nhân # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ngộ Độc Cấp Thuốc Diệt Chuột Trung Quốc Và Nguyên Nhân mới nhất trên website Missvnuk.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo thống kê của Vụ Điều trị- Bộ Y tế ở 39 bệnh viện tỉnh trong toàn quốc từ 1996- 1998 thì ngộ độc thuốc diệt chuột đứng hàng thứ 3 trong các ngộ độc cấp, chiếm 8,87%, tỉ lệ tử vong là 4,48%. Một thống kê tại 48 bệnh viện trong toàn quốc từ 1998 – 6/2000 thì thấy hơn 12,16% các trường hợp ngộ độc cấp là ngộ độc thuốc diệt chuột, và tỉ lệ tử vong là 3,5%. Trước năm 1990 thuốc diệt chuột của Trung Quốc được nhập lậu tràn lan vào nước ta, giá rẻ, dễ mua, nên nó được sử dụng rộng rãi, tuỳ tiện để diệt chuột và cũng có thể dùng để tự tử.

Khi một người bị co giật nghi do ngộ độc thuốc chuột cách chữa trị duy nhất cho người bị ngộ độc thuốc diệt chuột Trung Quốc là cấp cứu ban đầu và vận chuyển nhanh tới bệnh viện để tiến hành rửa ruột.

Thuốc diệt chuột Trung Quốc là loại ống nước hay dạng hạt gạo, có màu đỏ xuất hiện trên thị trường nước ta từ đầu những năm 90, giá rất rẻ, diệt chuột khá hiệu quả nhưng cũng gây nên khá nhiều tai nạn do uống nhầm nhất là trẻ em hoặc tự tử do mua thuốc quá dễ dàng. Bản chất của loại thuốc này là trifluoroacetamid và một số muối của fluor như fluoroacetat, gây độc tế bào do ức chế chu trình Krebs làm giảm chuyển hóa glucose, giảm hô hấp tế bào, làm cạn kiệt dự trữ năng lượng.

Thuốc này có tác dụng khá nhanh và nguy hiểm tới các cơ quan như cơ vân, tim não, thận. Thuốc này còn có thể gây rối loạn ý thức, co giật, loạn nhịp tim và tử vong nhanh chóng trong 5 – 10 phút đến vài giờ. Bệnh lý của ngộ độc thuốc diệt chuột Trung Quốc phức tạp hơn, nhiều biến chứng, một số bệnh nhân tử vong rất nhanh trong tình trạng suy tim cấp, rối loạn nhịp tim, ngừng tim.

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngộ độc thuốc diệt chuột đối với trẻ nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự vô ý của người lớn, không thận trọng trong khi bảo quản và sử dụng thuốc. Đặc điểm của loại thuốc này thường được trộn lẫn với đồ ăn để dụ chuột ăn như gạo, lạc, cơm, cá…do đó trẻ rất có khả năng ăn phải hoặc uống phải thuốc chuột Trung Quốc vì không biết.

Thuốc diệt chuột được trộn với thóc giống để nhử chuột

Một số trường hợp ngộ độc thuốc diệt chuột Trung Quốc cũng thường xảy ra do sự quản lý đối với loại thuốc này tương đối lỏng lẻo, lại dễ tìm thấy ở các cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật, dễ mua. Do đó một số trẻ có thể mua thuốc diệt chuột Trung Quốc để tự tử hoặc bị ai đó dùng thuốc này để ép tự tử. Tuy nhiên những trường hợp này thường chỉ gặp ở những trẻ trong độ tuổi vị thành niên, những trẻ đã biết sử dụng thuốc có mục đích, biết tự suy nghĩ, ý thức được công dụng và hiệu quả của loại thuốc này với sức khỏe và tính mạng con người.

Mặc dù bản chất của thuốc diệt chuột đã được làm sáng tỏ nhưng công tác cấp cứu và điều trị hết sức khó khăn, tỉ lệ tử vong vẫn cao. Do đó các bậc phụ huynh nên cẩn trọng hơn trong vấn đề sử dụng và bảo quản thuốc để tránh xảy ra các hậu quả không thể lường trước.

Bài viết đã đăng ký bản quyền nội dung số.Mọi sao chép phải tuân thủ quy định của NKB

Ngộ Độc Thuốc Diệt Chuột

Biểu hiện và tác dụng chất độc của thuốc diệt chuột

Cơ chế tác dụng chất độc của các loại thuốc diệt chuột có khác nhau, chia ra làm các loại như sau:

Ức chế khâu chuyển hóa trong cơ thể

Vinyl Amido: Loại flo hữu cơ là chất không màu, không mùi, không dễ bay hơi khi kết tinh thành bột màu trắng, dễ tan trong nước, là loại thuốc cực độc để diệt chuột, đồng thời cũng cực độc đối với người và gia súc. Rất khó phân giải trong tự nhiên và trong động vật, rất dễ ngộ độc tiếp xúc nhiều lần. Loại chất độc này được hấp thụ qua đường tiêu hóa và niêm mạc da bị tổn thương, sau khi thâm nhập vào cơ thể làm mất Amoniac, hình thành Flouric Acid, rồi tạo thành hợp chất Fluoric Acid Citric, ức chế Acid Aconitic, làm cho Acid Citric không thể chuyển hóa thành Acid Aconitic, kết quả là Acid Citric tích tụ thành lượng lớn trong cơ thể, năng lượng Acid Triolefìnic tuần hoàn bị cản trở trong quá trình chuyển hóa, nên chất độc gây tổn thương chủ yếu cho hệ thống huyết mạch tim và hệ thống thần kinh trung ương. Việc tích tụ Acid Fluoric, Acid Citric cũng có tác dụng kích thích trực tiếp hệ thống thần kinh. Cũng có người cho rằng Acid Citric được tích tụ có tác dụng ức chế Phosphohexokinase là điều rất quan trọng với cơ chế tác động của chất độc.

Biểu hiện lâm sàng của kiểu ngộ độc này có thể phân ra làm các loại tổn thương chủ yếu ở hệ thần kinh và ở tim mạch, thì tổn thương cho hệ thần kinh gặp phải nhiều hơn. Thời gian ủ bệnh sau khi ngộ độc từ 30 phút đến 6 giờ. đầu tiên có biểu hiện ợ chua, nôn oẹ, khó chịu ở vùng bụng trên, chóng mặt, váng đầu, bồn chồn không yên, tâm thần hoang mang, rã rời cơ bắp, bệnh nhân bị nặng có thể co giật, toàn thân co rúm lại, có biểu hiện tái phát nhiều lần, các động tác ấy ngày càng nặng, do bị suy hô hấp có thể dẫn đến tử vong. Nếu tình trạng bệnh kéo dài, đa số bệnh nhân bị loạn nhịp tim, cơ tim bị tổn thương. Xét nghiệm có thể lấy các chất đã nôn ra, xét nghiệm dịch dạ dày hoặc thức ăn còn lại ở dạ dày cho biết lượng fluor trong máu và nước tiểu tăng cao, kiểm tra điện não đồ thấy khác thường.

Thuốc chống chuột, hay còn gọi là thuốc diệt chuột.

Thuốc diệt chuột tức thì.

Còn gọi là thuốc diệt chuột Pyrimidine, là một dạng sáp màu vàng nâu, không dễ tan trong nước, thường không gây tái ngộ độc lần 2. Đó là chất kháng lại việc chuyển hóa Vitamin B6, có khả năng gây cản trở việc chuyển hóa chất Amino trong Acid Amino và phản ứng tách Decarboxylizing, gây khó khăn cấp tính trong chuyển hóa ở cơ thể, sinh ra triệu chứng thần kinh ngộ độc như co giật từng cơn rất mạnh…

Tác động tới thần kinh trung ương.

Thuốc diệt chuột có độc tính mạnh, còn gọi là “424” là chất bột màu trắng, tan trongnước. Rất dễ gây tái ngộ độc lần hai, hay có thể bị ngộ độc từ thực vật được phun thuốc này sau một thời gian dài vẫn có thể gây ngộ độc. Xét nghiệm cho thấy rõ, các xử lý và thổ nhưỡng khác, ví như cây Samu sau khi chiết xuất 4 năm chất độc của nó vẫn có thể giết chết chuột hoang. Chất này là thể kích thích thần kinh trung ương cực mạnh, có tác dụng dẫn đến co giật, thuốc tác dụng rất nhanh, động vật bị trúng độc với liều lượng lớn sau 3 phút sẽ chết ngay, cơ chế tác dụng không rõ ràng. Loại sản phẩm này có tác dụng kháng lại chất GABA (chất Aspactic Acid) có tác dụng ức chế thần kinh trung ương. Sau khi ngộ độc thường có các biểu hiện là co giật, có thể bị co rút dữ dội gây ra suy hô hấp rồi dẫn đến tử vong.

Tác dụng chống đông máu.

Thuốc diệt chuột có chứa Natri, thuộc nhóm Indandione, là chất bật màu vàng nhạt, có thể hòa tan trong nước. Chất độc tác dụng chủ yếu thông qua gan cản trở sử dụng Vitamin K, làm ảnh hưởng tới nguồn men đông máu và ảnh hưởng tới việc hợp thành một số hạt nhân đông máu như nhóm II, V, VII và X tổn thương trực tiếp cho thành tế bào máu, làm cho nội tạng và da bị xuất huỵết.

Sau khi bị ngộ độc có thời kỳ ủ bệnh dài, thương sau khi ăn phải thực phẩm từ ngày thứ ba đến ngày thứ bảy mới xuất hiện triệu chứng. Đầu tiên là ợ chua, nôn oẹ, đau bụng, ăn uống kém và tinh thần rệu rã, v.v… Sau đó lần lượt thấy chảy máu mũi, chảy máu lợi, da bị tử điếm, khạc ra máu, đi tiểu ra máu, đi ỉa ra máu, có triệu chứng xuất huyết toàn thân, những bệnh nhân nặng cơ thể bị sốc do xảy ra chảy máu.

Xét nghiệm: nghi ngờ những thức ăn, các chất nôn ra, dịch vị dạ dày. Kiểm tra sơ bộ bằng cách lấy 0,5 ml chất trong dạ dày cho vào 1,5 ml Absolute Ethyl Ahcool rồi cho thêm một giọt Trichloride sắt, nếu như thấy có màu đỏ là dương tính. Thời gian máu đông và nguồn men máu đông thấy dài rõ rệt.

Tác dụng ức chế men.

Thuốc diệt chuột an toàn: là chất bột màu vàng nhạt, không thối, không có mùi vị, không tan trong nước, có tác dụng ức chế Choline Esterase. Sau khi ngộ độc có thể gây ra Choline (Bilineurine) là triệu chứng gây ra thần kinh hưng phấn, bị chóng mặt, mệt mỏi, đổ nhiều mồ hôi, đồng tử thu nhỏ, ợ chua, nôn oẹ, đau bụng, chảy nước dãi. Người bị nặng thấy cơ bắp giần giật, thũng phổi, hoạt tính Acety – Choline Esterase trong máu giảm.

Thuốc diệt chuột chứa Phospho.

Thuộc nhóm lân hữu cơ, là chất bột màu trắng hoặc kết tinh, có thể gây tái ngộ độc lần hai cho động vật. Khi bị ngộ độc cấp tính nó gây ức chế hoạt tính Choline Esterase, có triệu chứng xảy ra dạng nấm độc hoặc Nicotin. Biểu hiện lâm sàng giống với ngộ độc lân hữu cơ. Hoạt tính Acety Choline Esterase giảm thấp. Ngoài ra, cần chú ý với biểu hiện lâm sàng, sau khi chữa khỏi, ngộ độc có thể bị quật lại dẫn đến tử vong.

Các loại khác

Photphat Kẽm (Zinc Phosphade) là chất bột màu đen sẫm hoặc màu xám, có mùi hắc của tỏi thối. Cơ chế tác dụng chất độc chủ yếu là Zinc Phosphade ở trong dạ dày sau khi gặp phải Acid biến thành Hydrogen

Phosphade và Butter of Zinc. Trong đó Hydrogen Phosphade thông qua việc ức chế men ôxy trong tế bào máu đã gây tổn thương cho hệ thống thần kinh trung ương, tim, gan, thận. Còn Butter of Zinc có tác dụng cực mạnh với đường tiêu hóa, có thể gây tổn thương ăn mòn niêm mạc dạ dày. Sau khi ăn phải thực phẩm có độc 48 giờ thì bệnh phát, mồm miệng bị loét, đau đớn, ợ chua, nôn oẹ, tiêu chảy. Các chất nôn oẹ ra có mùi hôi hắc. Khi bệnh nặng thì tâm thần bắt đầu lẫn cẫn, bị co rút và bị sốc, thường có kèm theo tổn thương nặng nề tim, gan, thận, có một số ít người có thể bị thũng phổi.

Thuộc loại Subtituted Urê, là kết tính màu trắng, không thối và không tan trong nước, do loại chất độc này rất dễ bị chuột nhờn thuốc kháng lại và việc bỏ bả cũng khó, cho nên ngày nay ít sử dụng loại này. Tác dụng chất độc của loại thuốc này chủ yếu là làm tổn thương mao mạch huyết quản phổi, từ đó dẫn đến thũng phổi. Sau khi chất độc thâm nhập, cơ thể có biểu hiện Ợ chụa, nôn oẹ, chóng mặt, buồn ngủ, nếu ăn một lượng lớn thuốc độc sẽ gây khó thở, thâm tím, thũng phổi, dịch tràn ngực, hôn mê. và sốc. Ngoài ra còn bị thương tổn ở gan, thận và lượng đường trong máu bỗng tăng quá cao.

Chẩn đoán

Quá trình chất độc thâm nhập và tiếp xúc.

Biểu hiện lâm sàng điển hình.

Ví dụ như ngộ độc Vinyl Amidatin thường xuất hiện bị co rút, co giật toàn thân từng cơn, nhiều lần, bị ngộ độc thuốc diệt chuột loại mạnh thì các biểu hiện đặc thù chủ yếu là co giật từng cơn và động kinh. Trước đây cơ thể đang khoẻ mạnh, thì đột nhiên thấy xuất hiện xuất huyết nhiều chỗ không rõ nguyên nhân, thậm chí lợi và da cũng chảy máu, đồng thời đi tiểu ra máu thì cần nghĩ đến khả năng đã bị ngộ độc loại thuốc diệt chuột chống đông máu, v.v… Phải tiến hành xét nghiệm kiểm tra để có thêm chứng cứ.

Xét nghiệm để chẩn đoán – Điều trị.

Nếu bị ngộ độc thuốc diệt chuột chống đông máu, dùng Vitamin K1 điều trị có hiệu quả, nếu như nghi ngờ bị ngộ độc chất Carbamate thì có thể dùng thử Atropine.

Chẩn đoán để phân biệt.

Khi ngộ độc Vinyl Amidation, thuốc diệt chuột loại mạnh, thuốc diệt chuột tức thì, v.v… có các biểu hiện như co rút, động kinh, co giật, v.v… Như khi uống nhầm chất độc, có biểu hiện lâm sàng điển hình là khi phát bệnh thì người và gia súc đều phát tác giống nhau, xét nghiệm kiểm tra chứng cứ, xét xem trước đây có bị động kinh không để phân biệt.

Ngộ độc thuốc diệt chuột chống đông máu.

Cần loại trừ căn bệnh máu lâu đông và huyết tiểu cầu do ban xuất huyết, máu đông trong huyết mạch lan rộng ra, lượng Dicumarol quá lớn hoặc chức hăng gan bị tốn thương nặng, trường hợp cơ số tiểu cầu máu và chức năng gan bình thường, thì thời gian máu đông và thời gian nguồn men đông kéo dài rõ rệt, nếu tiêm đủ lượng Vitamin Kl vào tĩnh mạch cho thấy rõ rệt hiệu quả giúp cho chẩn đoán.

Khi ngộ độc Carbamate có chứng thần kinh Choline thì cần phân biệt rõ với ngộ độc lân hữu cơ.

Thuốc chống chuột.

Điều trị, ngăn chặn để không tiếp tục hấp thụ chất độc

Ngăn chặn để không tiếp tục hấp thụ chất độc.

Thụt, rửa hết chất độc bằng cách thức cho nôn ra, tẩy dạ dày, thụt rửa, rửa sạch chất độc ô nhiễm ở da. Khi bị ngộ độc Zinc Phosphade cần kiêng ăn các loại thực phẩm có dầu mỡ và sữa bò, tuyệt đối không dùng Acid Sunturic Magiê để thụt.

Điều trị có hiệu quả đặc biệt.

Là loại thuốc giải độc hiệu nghiệm nhất đối với loại ngộ độc Vinyl Amidatin. Ngữời lớn liều dùng 2,5 đến 5 g, tiêm bắp, mỗi ngày 2 đến 4 lần. Bệnh nhân nặng có thể dùng một liều 5 đến 10 g, pha với 20 đến 40 ml đựờng Glucose 50%, tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch, nói chung dùng liên tục trong thời gian từ 5 đến 7 ngày.

Thích hợp với việc dùng thuốc giải độc Acetamide điều trị ngộ độc Vinyl Amidatin cho hiệu quả. Cách dùng: 5 ml Abssolute Ethyl Alcohol pha với 100 ml đường Gluco 10%, tiêm từ từ vào tĩnh mạch, mỗi ngày 2 đến 4 lần. Người ngộ độc nhẹ có thể cho uống thêm rượu trắng.

Thích hợp với các ca ngộ độc thuốc diệt chuột chống đông máu. Cách dùng: 10 đến 20 mg Vitamin Kl, tiêm bắp, mỗi ngày 2 đến 3 lần. người bị nặng cho tiêm với liều lượng thuốc lớn hơn tiêm từ từ vào tĩnh mạch, liên tục từ 5 đến 7 ngày, cho đến khi dừng hẳn việc chảy máu, thời gian nguồn men đông máu trở lại bình thường, tiếp tục theo dõi từ 10 đên 15 ngày.

Dùng Atropine: Dùng trong trường hợp bị ngộ độc có chứa lân và thuốc diệt chuột có Phospho hữu cơ. Atropine dùng để giải các ca ngộ độc Carbamate.

Dùng Niacinamide: Là thuốc giải độc rất hiệu nghiệm với loại thuốc chống chuột. Sau khi bị ngộ độc phải lập tức cho uống ngay với liều lượng lớn Niacinamide để đề phòng mắc bệnh tiểu đường. Cách dùng: 200 đến 400 rag Niacinamide pha vào 250 ml đường Gluco 10% để tiêm từ từ vào tĩnh mạch, ngày từ 1 đến 2 lần.

Các loại khác:

Vitamin B6 có tác dụng giải độc với các ca ngộ độc thuốc diệt chuột tức thì; Semi Acid Amoniac có tác dụng với ngộ độc chất Vinyl Amidation.

Điều trị theo chứng bệnh

Với những bệnh nhân bị co rút cho dùng thuốc an thần Barbital, hay Stabilizing.

Phòng não bị ngộ độc, phù não: Hạn chế việc lượng chuyển dịch vào, cho uống thuốc chống mất nước, uống thuốc Adrenaline và thuốc bổ thần kinh. Với người có biểu hiện bị thương tổn hệ thần kinh thì cần sớm cho bệnh nhân thở ôxy cao áp.

Phòng trị khí thũng phổi: Dùng thuốc Adrenaline, khi cần cho bệnh nhân thở ôxy ngay.

Nếu có triệu chứng chảy máu thì phải cho truyền máu, cần dùng Adrenaline hoặc cung cấp đầy đủ lượng Vitamin c để giúp việc cầm máu.

Các loại khác:

Bảo vệ một số bộ phận quan trọng như tim, gan, thận, không chế việc suy hô hấp, nhịp tim thất thường, suy tim, v.v… Ngăn chặn và chống nhiễm bệnh. Khi ngộ độc có triệu chứng nặng và chức năng thận không tốt thì phải cho chích máu rồi dẫn lưu.

Ngộ Độc Thuốc Diệt Chuột Fluoroacetate

Trường Đại học nông lâmKhoa chăn nuôi – thú y BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ THUỐC DIỆT CHUỘT FLUOROACETATE VÀ FLUOROACETAMIDE

Giảng viên: Đào Văn CườngMôn học: Độc chất học Thú YSinh viên thực hiện: Lê Minh ThànhLớp: LTTY K3Nội dung: gồm 2 phầnPhần 1: Giới thiệu về chuột và thuốc diệt chuộtPhần 2: Nội dung2.1. Nguồn2.2. Tính chất2.3. Độc tính2.4. Độc động học2.5. Cơ chế2.6. Triệu chứng2.7. Bệnh tích2.8. Chẩn đoán2.9. Điều trịPhần 1: Giới thiệu về chuột và thuốc diệt chuộtChuột là một loại động vật thuộc loài gặm nhấm, phần đa là có hại, là địch hại phá hoại mùa màng, vật dụng (chuột nhà, chuột đồng, chuột cống …).Số ít loài chuột được sử dụng với mục đích có lợi (chuột lang, chuột bạch được sử dụng trong phòng thí nghiệm) Yêu cầu của một loại thuốc diệt chuột lý tưởng là độc với chuột nhưng không độc với người và các loài gia súc khác, tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn chưa tìm ra được Hiện nay có trên 28 loại thuốc chuột, có nguồn gốc khác nhau (Zinc phosphide, warfarin, fluoroacetate và fluoroacetamide, …) Phần 2: Nội dungTìm hiểu về thuốc diệt chuột Fluoroacetate và FluoroacetamideFluoroacetate và Fluoroacetamide thường được nhập từ Trung Quốc nên còn gọi là thuốc chuột Trung Quốc.Đều có nguồn gốc từ acid Fluoroacetic, acid này có 2 dẫn suất rất độc, đó là Fluoroacetate (compound 1080) và Fluoroacetamide (compound 1081).Fluoroacetic acid là một thành phần độc chính của một loại cây Dichapetalum cymosum ở Nam Phi, loại Palicourea ở Nam Mỹ và loại Gastrolobium, Oxylobium và Acacia (đều là cây họ đậu) ở châu Úc 2.1. Nguồn gốcCây Dichapetalum cymosum ở Nam Phi

Cây Palicourea ở Nam Mỹ Cây Oxylobium ở châu ÚcCây Gastrolobium ở châu ÚcCây Acacia ở châu Úc2.2. Tính châtFluoroacetate là một chất không màu, không mùi, không vị, có thể hòa tan trong nước.Fluoroacetate có độc tính cao cho tất cả mọi loài động vật, nhưng loài động vật có vú bậc cao kém nhạy cảm hơn loài gậm nhấm. Ở nhiệt độ cao sodium fluoroacetate phân hủy thành khói sodium và fluorine có độc tính rất caoFluoroacetamide có tính chất giống fluoroacetate thể chuyển hóa chậm thành Fluoroacetate.

Chó Mèo Bị Ngộ Độc Thuốc Diệt Chuột

Strychnine là một chất độc rất mạnh và nguy hiểm thường được biết đến là thành phần của thuốc diệt chuột, ruồi, và các loài gặm nhấm khác. Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi ăn thuốc, các triệu chứng lâm sàng của ngộ độc strychnine dần xuất hiện và trở nên cấp tính cuối cùng dẫn đến cái chết đột ngột.

Tiếp xúc ngẫu nhiên với chất độc (thường gặp ở mèo)

Ăn và săn các động vật gặm nhấm

Chất độc dính trên lông da và con vật chải chuốt vô tình nhiễm độc

2. Triệu chứng ngộ độc thuốc diệt chuột

Chân co cứng

Cơ cứng

Các cơn động kinh không kiểm soát được (đôi khi phản ứng mạnh với ánh sáng hoặc tiếng ồn)

Các cơn co thắt nghiêm trọng dẫn đến sự cong cứng đầu, cổ và lưng cùng với việc chó mèo bị hạ huyết áp

Nhịp tim tăng

Nhiệt độ cơ thể cao

Thở khó khăn hoặc không thở được

Con vật bị nôn

3. Chẩn đoán chó, mèo bị nhiễm độc thuốc diệt chuột

Tình trạng ngộ độc thuốc diệt chuột trên chó mèo cần cấp cức ngay. Vậy nên, bạn sẽ cần cung cấp cho bác sĩ thú y nhanh và chính xác về lịch sử sức khoẻ của chó mèo, các triệu chứng bắt đầu, và các sự cố xảy ra trước khi có tình trạng này.

Nếu bạn biết hoặc nghi ngờ rằng con mèo của bạn đã bị nhiễm chất độc, bạn có thể thu thập mẫu chất nôn hoặc phân để đưa cho bác sĩ thú y phân tích ngay lập tức, bác sĩ sẽ có thể điều trị vật nuôi nhanh chóng chính xác và hiệu quả hơn.

Mẫu máu sẽ được lấy và mang đi xét nghiệm, vì chất độc có thể gây độc với các cơ quan khác bên trong cơ thể và làm cơ thể mất đi sự cân bằng, việc điều trị sẽ dựa trên các điều kiện cụ thể, với sự giám sát chặt chẽ và chăm sóc từ các bác sĩ thú y. Các xét nghiệm cần làm bao gồm đếm số lượng máu, sinh hóa máu và xét nghiệm nước tiểu . Sinh hóa máu có thể cho thấy một sự gia tăng bất thường của các loại enzyme ảnh hưởng đến cơ vân và cơ tim, xét nghiệm nước tiểu có thể cho thấy nồng độ protein niệu cao. Bác sĩ thú y cũng có thể lấy mẫu của chất chứa trong dạ dày để phân tích và xác định ảnh hưởng nếu chất độc làm tổn thương niêm mạc dạ dày

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ngộ Độc Cấp Thuốc Diệt Chuột Trung Quốc Và Nguyên Nhân trên website Missvnuk.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!