Đề Xuất 2/2023 # Thuốc Cai Nghiện Rượu Acamprosate # Top 2 Like | Missvnuk.com

Đề Xuất 2/2023 # Thuốc Cai Nghiện Rượu Acamprosate # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thuốc Cai Nghiện Rượu Acamprosate mới nhất trên website Missvnuk.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoạt chất : Acamprosate

Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N07BB03.

Brand name: Campral.

Generic : Acamprosate

2. Dạng bào chế – Hàm lượng: Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 333 mg.

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng: 4.1. Chỉ định:

Thuốc được sử dụng để cai nghiện rượu. Thuốc nên được sử dụng theo phác đồ điều trị bao gồm cả tư vấn và hỗ trợ tâm lý.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng : Dùng uống.

Liều dùng:

Liều lượng điển hình là 6 viên chia ba lần mỗi ngày.

Không cần sử dụng lại Acamprosate trong trường hợp uống rượu trở lại vì thuốc có tác dụng lâu dài.

Người lớn trong độ tuổi từ 18-65 tuổi:

Dùng 2 viên ba lần mỗi ngày với bữa ăn (sáng, trưa và tối) ở những đối tượng nặng từ 60kg trở lên.

Ở những đối tượng có cân nặng dưới 60kg, 4 viên chia làm ba lần mỗi ngày với bữa ăn (2 viên vào buổi sáng, 1 vào buổi trưa và 1 vào buổi tối).

Người lớn tuổi

Acamprosate không nên được sử dụng ở người lớn tuổi

Acamprosate không nên được sử dụng ở trẻ em

Thời gian điều trị được đề nghị là một năm. Điều trị bằng acamprosate nên được bắt đầu càng sớm càng tốt sau thời gian rút và nên duy trì nếu bệnh nhân tái phát.

Acamprosate không ngăn chặn tác hại của việc lạm dụng rượu liên tục. Lạm dụng rượu liên tục giảm tác dụng điều trị, do đó, điều trị bằng acamprosate chỉ nên được bắt đầu sau khi kiêng rượu.

4.3. Chống chỉ định:

Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

Phụ nữ cho con bú.

Suy thận.

4.4 Thận trọng:

Sự an toàn và hiệu quả của Acamprosate chưa được thiết lập ở những bệnh nhân dưới 18 tuổi hoặc trên 65 tuổi. Do đó, Acamprosate không được khuyến khích sử dụng cho các đối tượng này.

Sự an toàn và hiệu quả của Acamprosate chưa được thiết lập ở những bệnh nhân bị suy gan nặng.

Lạm dụng và phụ thuộc

Các nghiên cứu phi lâm sàng cho thấy acamprosate có ít hoặc không có khả năng bị lạm dụng. Không có bằng chứng về sự phụ thuộc vào acamprosate được tìm thấy trong bất kỳ nghiên cứu lâm sàng nào, do đó chứng minh rằng acamprosate không có tiềm năng phụ thuộc đáng kể.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú: Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu đầy đủ từ việc sử dụng Acamprosate ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra bất kỳ bằng chứng nào về độc tính hoặc nhiễm độc tố. Do đó, Acamprosate chỉ được sử dụng trong thai kỳ sau khi đánh giá lợi ích / rủi ro.

Thời kỳ cho con bú:

Được biết, Acamprosate được bài tiết qua sữa của động vật. Người ta không biết liệu acamprosate được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Không có dữ liệu việc sử dụng acamprosate ở trẻ sơ sinh. Do đó, Acamprosate không được sử dụng ở phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100, <1/10), không thường gặp (1 / 1.000, <1/100), hiếm (≥ 1 / 10.000, <1 / 1.000), rất hiếm (<1 / 10.000), tần số không xác định (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn)

Rối loạn tiêu hóa:

Rất thường gặp: Tiêu chảy

Thường gặp: Đau bụng, buồn nôn, nôn, đầy hơi

Rối loạn da và mô dưới da:

Thường gặp: Ngứa, nổi mẩn đỏ

Rối loạn hệ thống miễn dịch:

Rất hiếm: Phản ứng quá mẫn bao gồm nổi mề đay, phù mạch hoặc phản ứng phản vệ.

Hệ thống sinh sản và rối loạn tiết sữa:

Thường gặp: Sự khó chịu hoặc bất lực.

Rối loạn tâm thần:

Thường gặp: Giảm ham muốn

Không thường gặp: Tăng ham muốn

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc. 4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Việc uống đồng thời rượu và acamprosate không ảnh hưởng đến dược động học của rượu hoặc acamprosate. Sử dụng acamprosate với thực phẩm làm giảm sinh khả dụng của thuốc so với việc sử dụng thuốc ở trạng thái đói.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, acamprosate đã được sử dụng an toàn kết hợp với thuốc chống trầm cảm, thuốc giải lo âu, thuốc ngủ và thuốc an thần và thuốc giảm đau không opioid

Các nghiên cứu dược động học đã được hoàn thành và cho thấy không có tương tác giữa acamprosate và diazepam, disulfiram, oxazepam, tetrabamate, meprobamate hoặc imipramine.

Không có thông tin về việc sử dụng đồng thời acamprosate với thuốc lợi tiểu.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc : 5.1. Dược lực học:

Acamprosate đã được sử dụng đầu tiên ở châu Âu để điều trị nghiện rượu từ năm 1989. Trong năm 2004 nó trở thành thuốc thứ ba được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận cho chỉ định cai rượu, sau disulfiram (Antabuse) và naltrexone (Revia). Acamprosate có cấu trúc tương tự axit γ -aminobutyric (GABA). Acamprosate có tác dụng giảm uống rượu bằng cách tác động các kênh canxi và làm thay đổi sự dẫn truyên của GABA và glutamine tại não, có thể dẫn đến giảm nhu cầu uống rượu, giảm cảm giác thèm rượu.

Nhiều nghiên cứu đã minh chứng sự an toàn của acamprosate. Không có nguy cơ lạm dụng hoặc lệ thuộc. Khả năng dung nạp khá tốt với hầu hết cá thể sử dụng.

Acamprosate được dung nạp rất tốt. Khoảng một nửa số bệnh nhân được sử dụng acamprosate ngưng được rượu trong vòng một năm , nhưng tỷ lệ này là tương tự như thấy với placebo. Mười đến 17 phần trăm bệnh nhân bị tiêu chảy, thường thoáng qua và là tác dụng phụ thường gặp nhất của acamprosate . Tác dụng phụ khác được báo cáo thường xuyên hơn với acamprosate so với giả dược là chóng mặt, ngứa, và TĂNG ham muốn tình dục . Tác dụng phụ không thường xuyên bao gồm lo âu , trầm cảm, suy nhược, buồn nôn, nôn , nhức đầu , buồn ngủ , và toát mồ hôi. Cơ quan nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ và chất lượng kết luận rằng có bằng chứng acamprosate cai rượu là hoàn toàn hợp lý, dung nạp tốt và không gây hại.

Acamprosate là có hiệu quả như naltrexone. Sự kết hợp của acamprosate và naltrexone có hiệu quả hơn so với acamprosate đơn độc, nhưng không hiệu quả hợn naltrexone đơn độc. Việc sử dụng kết hợp acamprosate và disulfiram có thể có hiệu quả hơn sử dụng một trong hai loại thuốc đơn độc.

Cơ chế tác dụng:

Ảnh hưởng đến sự cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh GABA và glutamate bằng cách giảm dẫn truyền glutamergic và điều hòa tình trạng tăng kích thích thần kinh.

Acamprosate (canxi acetylhomotaurinate) có cấu trúc hóa học tương tự như các chất kích thích thần kinh axit amin, như taurine hoặc axit gamma-amino-butyric (GABA), acetyl hóa để cho phép đi qua hàng rào máu não. Acamprosate có thể hoạt động bằng cách kích thích hệ ức chế dẫn truyền thần kinh GABAergic và đối kháng các chất kích thích, đặc biệt là glutamate.

[XEM TẠI ĐÂY] 5.2. Dược động học:

Hấp thu: Hấp thu chậm ở đường tiêu hóa. Giảm hấp thu khi dùng uống thuốc lúc no. Sinh khả dụng: Khoảng 11%. Thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương: 3-8 giờ.

Phân bố: Qua được hàng rào máu não. Thể tích phân bố: Khoảng 1 L/kg.

Thải trừ: Bài tiết qua thận dưới dạng không đổi. Thời gian bán thải: 20-33 giờ.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

Hoặc HDSD Thuốc.

Thuốc Cai Nghiện Rượu Espéral (Disulfirame) Điều Trị Nghiện Rượu Mãn Tính

Thuốc cai nghiện rượu Espéral (Disulfirame)

Chỉ định

Disulfiram dùng để điều trị nghiện rượu mãn tính. Disulfiram gây tác dụng phụ khó chịu khi uống rượu thậm chí một lượng rất nhỏ rượu. Những tác dụng phụ gồm có đỏ bừng mặt, nhức đầu, buồn nôn, nôn, đau ngực, suy nhược, mắt mờ, rối loạn tâm thần, ra mồ hôi, nghẹt thở, khó thở, và lo lắng. Các hiệu ứng này xuất hiện vào khoảng 10 phút sau khi uống rượu và kéo dài một giờ hoặc lâu hơn.

Liều lượng

Disulfiram được uống mỗi ngày một lần. Để giúp bạn nhớ uống thuốc đều đặn, hãy uống thuốc cùng lúc với thời điểm bạn phải làm một việc thường xuyên hàng ngày, chẳng hạn như mỗi khi đánh răng vào buổi sáng hoặc ăn bữa tối.

Dạng bào chế

Disulfiram có dạng viên nén. Nếu bạn không thể nuốt viên thuốc, có thể nghiền và cho thuốc vào với nước lọc, cà phê, trà, sữa, các loại nước giải khát, hoặc nước hoa quả.

Hướng dẫn sử dụng thuốc

1. Tuyệt đối không uống rượu trong khi dùng disulfiram, trong khoảng thời gian 12 giờ trước khi sử dụng liều thuốc đầu tiên, và vài tuần sau khi ngừng thuốc.

2. Luôn giữ liên lạc với bác sĩ để thông báo cho bác sĩ biết trong trường hợp khẩn cấp.

3. Disulfiram làm cho một số bệnh nhân buồn ngủ. Không nên lái xe hay vận hành máy móc nguy hiểm. Chỉ làm những việc này sau một thời gian uống thuốc, khi bạn theo dõi và biết chắc chắn thuốc này có ảnh hưởng thế nào đến bạn.

4.Không nên ngưng dùng disulfiram mà không tham vấn bác sĩ.

5. Chế độ ăn tránh nước sốt, vinegars, tất cả các loại thực phẩm và đồ uống chứa cồn.

6.Nếu bạn bỏ lỡ mất một liều trong vòng 12 giờ mà lẽ ra bạn phải uống, phải uống ngay liều đã quên. Tuy nhiên, nếu đã hơn 12 giờ kể từ lần uống trước đó, bỏ qua liều đã quên và chỉ cần liều kế tiếp tại thời thường xuyên theo đơn. Không để lỡ 2 lần quên uống thuốc trong khoảng thời gian 12 giờ.

Tác dụng phụ

1. Rất ít gặp, có thể thấy phát ban da, mụn trứng cá, đau đầu nhẹ, buồn ngủ, mệt mỏi, bất lực. Liên lạc với bác sĩ nếu thấy cần.

2 Mùi kim loại hay mùi giống như tỏi trong miệng. Hiện tượng này thường mất đi sau một thời gian.

Thận trọng khác

1. Hãy chắc chắn rằng bác sĩ của bạn biết toàn bộ tình hình bệnh tật của bạn trước khi bạn uống disulfiram.

2. Disulfiram có thể tương tác với các thuốc khác mà bạn đang sử dụng.

3. Báo cho bác sĩ về bất cứ loại thuốc bạn đang dùng, đặc biệt là amitriptylin, isoniazid, metronidazole, phentoin, warfarin, và các thuốc không được kê đơn khác mà có thể chứa rượu.

4. Không cho phép bất cứ ai khác tự ý uống thuốc này.

Bảo quản

1. Để trong tủ khóa, ngoài tầm tay của trẻ em.

2. Tránh độ ẩm và nhiệt độ cao.

THAM KHẢO THÊM CÁC BÀI VIẾT KHÁC

Hướng dẫn Mua Thuốc -Thanh Toán & Nhận ThuốcHướng dẫn sử dụng thuốc cai cắt cơn, hỗ trợ sau cắt cơn và chống tái nghiện ma túyHướng dẫn tự cai cắt cơn ma túy tại nhàThuốc Cai Nghiện Ma Túy Heroin, Thuốc Cai Nghiện “Xì Ke”, Cai Nghiện Ma Túy “Đá”Thuốc hỗ trợ sau cai cắt cơn ma túy Tây sơnThuốc chống tái nghiện ma túy Nodict (Naltrexone 50mg)

Facebook: https://www.facebook.com/thuoccaimatuyvachongtainghien

#Thuốc_cai_nghiện_rượu_Espéral #Thuốc_cai_rượu #Thuốc_Disulfirame #Thuốc_Espéral #Thuốc_điều_trị_nghiện_rượu #cai_nghiện_rượu,

Hỏi Đáp Về Nghiện Rượu,Cai Nghiện Ma Túy

“Các pác ơi, cho em xin thuốc/cách chữa nghiện rượu với ạ. Tình hình là ông xã em rất thích uống rượu, cứ có bạn rủ là đi, là uống, tuần nào cũng phải 2-3 đêm không về nhà nổi vì uống rượu say. Hôm qua say ở nhà, em thấy như thế này, say nói lảm nhảm một lúc rồi ngủ. Nhìn cảnh tượng đấy em chán nản lắm. Nghĩ đến tương lai ông ấy cứ lảm nhảm mỗi khi uống rượu, rồi dẫn đến thần kinh yếu, đánh chửi vợ con thì em chết mất. Thật ra lúc nào em cũng có ý nghĩ đến kế “chuồn” thôi… nhưng trước hết em phải làm hết cách đã…giúp em với, có cách nào chữa được bệnh nghiện rượu cho ông xã em, cứu cả tương lai em, và con em với ạ!” ( theo “webtretho”)

Trả lời : Naltrexone (nodict, reVia) là một giải pháp. Thuốc này dùng để cai nghiện ma túy nhóm opioid, nhưng có tác dụng khiến người uống rượu mất dần cảm giác thèm rượu. Do vậy, khi uống thuốc này lâu ngày, người nghiện rượu và lạm dụng rượu sẽ bỏ dần rượu. Uống thuốc hằng ngày vào buổi sáng. Thời gian dùng thuốc phải tối thiểu 2 năm. Sau một tháng dùng thuốc, bệnh nhân chỉ giảm được chừng 50% lượng rượu uống (vẫn uống rượu trong khi uống thuốc, nhưng số lượng rượu uống hằng ngày giảm chừng một nửa). Hết tháng thứ hai dùng thuốc, bệnh nhân giảm được khoảng 70% lượng rượu uống. Hết tháng thứ ba dùng thuốc, bệnh nhân giảm được chừng 90% lượng rượu uống. Sau đó tiếp tục uống thuốc trong nhiều tháng (tối thiểu 2 năm). Ưu điểm của Naltrexone hầu như không gây ra phản ứng phụ gì, vì thế bệnh nhân không biết mình đang uống thuốc cai rượu (họ vẫn tưởng là uống thuốc chữa tăng huyết áp, mỡ máu, hạ men gan, đái tháo đường…). Khi buộc phải uống rượu, họ cũng không có phản ứng phụ gì. Có thể cai rượu ngoại trú. Nhược điểm của nhóm thuốc này là kết quả xuất hiện chậm, không cai rượu được tuyệt đối. Disulfiram (esperal) Thuốc này ức chế quá trình chuyển hóa rượu khiến cho rượu chuyển hóa thành aldehyd. Chính nồng độ aldehyd cao trong máu đã gây ra các phản ứng phụ rất khủng khiếp, khiến bệnh nhân buộc phải ngừng rượu. Các phản ứng phụ bao gồm: đỏ da (như da gà chọi), đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, chóng mặt, đánh trống ngực, sợ hãi, cảm giác chết đến nơi… Cường độ và độ dài của chúng phụ thuộc lượng rượu bệnh nhân uống. Do có nhiều phản ứng mạnh mẽ nên chúng rất thích hợp cho việc điều trị củng cố chống tái nghiện rượu. Nghĩa là sau khi bệnh nhân đã được cai rượu trong bệnh viện, trước khi ra viện 2-3 ngày, cần uống thuốc này và duy trì càng lâu càng tốt (tối thiểu trong 2 năm) để tạo phản xạ sợ rượu bền vững. Uống thuốc vào buổi sáng, uống hằng ngày trong ít nhất 2 năm. Ưu điểm của Disulfiram là nếu bệnh nhân uống thuốc đều thì hầu như không thể tái nghiện rượu. Tuy nhiên, phản ứng xảy ra gần như tức thì sau khi bệnh nhân uống rượu và rất mạnh mẽ, vì thế gây hoang mang cho người thân nếu như họ không được tư vấn đầy đủ và cụ thể trước đó. Lưu ý, chỉ được sử dụng Disulfiram sau khi bệnh nhân đã cai rượu hoàn toàn. Nếu bệnh nhân đang uống rượu mà uống thuốc này sẽ dẫn đến phản tác dụng, nghĩa là sẽ nôn ra thuốc và sợ thuốc (chứ không phải sợ rượu nữa). Cần thêm thông tin chi tiết, liên hệ BS Thu 0988079038 .

28 năm kinh nghiệm ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT

Trực tiếp tư vấn và điều trị nghiện rượu, nghiện heroin, các rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa, ketamin, (nghiện đá, ngáo đá), thuốc lắc

Tiến sĩ, Bác sĩ Trần thị Hồng Thu 0988 079 038 – 0916316 028

Cai Rượu Bằng Naltrexone,Cai Nghiện Ma Túy

Người nghiện rượu gây ra nhiều vấn đề cho an ninh xã hội, hạnh phúc gia đình và sức khoẻ bản thân. Họ đã thực sự trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Số người nghiện rượu vào điều trị tại Khoa Tâm thần – Bệnh viện 103 ngày càng gia tăng, chiếm tỷ lệ 30% tổng số bệnh nhân nhập viện. Khoảng 15 năm trước đây, để tìm được một bệnh nhân loạn thần do rượu minh họa lâm sàng cho học sinh rất khó, nhưng hiện nay mỗi ngày có 2-3 bệnh nhân loại này nhập viện. Họ thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội như công nhân, nông dân, người buôn bán, bộ đội, trí thức…

Để cai rượu, ta nên theo hướng dẫn điều trị của bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Sau khi nhập viện, bệnh nhân sẽ bị cấm uống rượu và cắt cơn cai bằng các thuốc seduxen, vitamin B1 và dung dịch truyền ringer lactat. Cai rượu là một quá trình rất vất vả và tốn kém, kéo dài chừng 1 tháng. Gia đình bệnh nhân nếu nhập viện sẽ phải tiêu tốn rất nhiều tiền cho việc điều trị. Ngoài ra, họ còn phải tốn kém nhiều cho các chi phí gián tiếp như trông nom bệnh nhân, đi lại, ăn, ở… Sau cai nghiện rượu, bệnh nhân cần được điều trị củng cố trong thời gian dài để chống tái nghiện rượu. Thông thường, các bác sĩ hay dùng esperal (disulfiram) cho bệnh nhân để chống tái nghiện. Bệnh nhân thường được chỉ định dùng esperal hàng ngày, uống buổi sáng trong thời gian tối thiểu 2 năm để bệnh nhân thích nghi được cuộc sống không có rượu. Cần lưu ý rằng thuốc esperal phải do người nhà tận tay cho uống để đảm bảo thuốc đến bụng bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không uống rượu thì không có chuyện gì xảy ra. Nhưng nếu bệnh nhân uống rượu (vô tình hay cố ý) sẽ lập tức có các phản ứng vô cùng khó chịu xảy ra như: đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, da đỏ như da gà chọi, hoảng hốt, đánh trống ngực, ra nhiều mồ hôi… Các phản ứng này kéo dài vài giờ khiến bệnh nhân sợ rượu và không dám uống nữa. Như vậy esperal có hiệu quả điều trị chống tái nghiện rượu rất cao, giá thành rất rẻ, dễ dùng, nhưng sẽ có một số nhược điểm sau: Nghiện rượu là một tệ nạn xã hội, số người nghiện rượu ngày càng gia tăng. Hiện nay, ở nông thôn, tỷ lệ người nghiện rượu là 4% dân số, con số này ở thành thị là 6%. Nếu tính tỷ lệ trên cho 85 triệu người dân Việt Nam thì con số người nghiện rượu là rất lớn.

– Phải ngừng rượu tối thiểu 48 giờ trước khi uống thuốc esperal. – Phải điều trị hội chứng cai rượu, thậm chí là sảng rượu do hậu quả của ngừng rượu.

– Thuốc esperal tuy rẻ, nhưng tính cả tiền điều trị cai rượu thì không hề ít tiền.

– Chỉ áp dụng được với bệnh nhân hợp tác điều trị (hoặc gia đình bệnh nhân bắt buộc được bệnh nhân uống thuốc). Vì những lí do trên, một phương pháp cai rượu mới đơn giản và dễ áp dụng, có thể dùng điều trị ngoại trú, áp dụng được cho cả các trường hợp bệnh nhân không hợp tác điều trị. Với phương pháp này đã cai rượu thành công cho rất nhiều trường hợp. Đó là sử dụng thuốc naltrexone Naltrexone là thuốc được chỉ định điều trị củng cố các trường hợp nghiện ma tuý nhóm opioid (morphin, heroin, dolacgan…). Qua các nghiên cứu người ta nhận thấy sau khi uống rượu, rượu sẽ được chuyển hoá trong cơ thể theo nhiều giai đoạn khác nhau. Một trong những sản phẩm chuyển hóa dở dang của rượu sẽ được gắn với một protein trong máu, tác dụng tới các thụ cảm thể morphin trên não bệnh nhân, gây ra khoái cảm tương tự khi người ta dùng morphin (một dạng morphin nội sinh). Chính các khoái cảm này khiến bệnh nhân thích thú và tiếp tục uống rượu. Khi dùng naltrexone, thuốc này sẽ ức chế tất cả các thụ cảm thể morphin trên não bệnh nhân. Vì thế morphin nội sinh có nguồn gốc từ rượu sẽ không còn gắn kết được với các thụ cảm thể morphin trên não được nữa, không tạo ra khoái cảm. Quá trình này nếu kéo dài (vài tháng trở lên) thì bệnh nhân sẽ dần mất hứng thú với việc uống rượu (chán rượu), do đó sẽ giảm dần lượng uống và bỏ rượu. Như vậy, điều trị bằng naltrexone sẽ có một số ưu điểm sau:– Bệnh nhân không cần ngừng rượu đột ngột, do đó không có hội chứng cai rượu. Vì thế, bệnh nhân không cần phải vào viện điều trị, tránh được nhiều tốn kém.– Hiệu quả gây chán uống rượu của naltrexone xuất hiện từ từ trong vòng 3 tháng, vì thế bệnh nhân sẽ thích nghi được với việc giảm dần lượng rượu uống hàng ngày.– Thuốc không gây ra các tác dụng phụ kiểu “bão táp” như esperal, vì thế có thể dùng được cho cả các bệnh nhân không hợp tác điều trị.

Naltrexone (Natrex, Revia, Nodict, Abernil, Depade…) uống sau bữa ăn sáng hàng ngày. Thời gian uống thuốc tối thiểu là 2 năm để bệnh nhân có thời gian thích nghi được với cuộc sống không có rượu một cách vững chắc.

Diễn biến điều trị – Tháng thứ nhất, lượng rượu uống còn khoảng 50%, bệnh nhân mất rõ rệt cảm giác thèm rượu.– Tháng thứ hai, lượng rượu uống giảm được 70%, bệnh nhân có thể không uống rượu mà không có cảm giác thèm nhớ rượu.– Tháng thứ ba, bệnh nhân không còn quan tâm gì đến rượu, có thể ngừng uống rượu hoàn toàn.Cách dùng như sau Với phương pháp cai rượu bằng naltrexone, bệnh nhân có thể uống rượu trong khi đang điều trị thuốc mà không có phản ứng khó chịu. Tuy nhiên sau đó bệnh nhân có thể ngừng uống rượu dễ dàng.

28 năm kinh nghiệm ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT

Trực tiếp tư vấn và điều trị nghiện rượu, nghiện heroin, các rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa, ketamin, (nghiện đá, ngáo đá), thuốc lắc

Tiến sĩ Trần thị Hồng Thu 0988 079 038 – 0916316 028

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thuốc Cai Nghiện Rượu Acamprosate trên website Missvnuk.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!