Top 4 # Xem Nhiều Nhất Các Loại Thuốc Kháng Sinh Liều Cao Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Missvnuk.com

Các Loại Thuốc Kháng Sinh (Antibiotics)

MỤC LỤC (TABLE OF CONTENTS)

– Mặc dù các bác sĩ muốn sử dụng các loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) để điều trị cho các bệnh nhiễm trùng đặc biệt do vi khuẩn gây ra, nhưng đôi khi các bác sĩ cũng có thể bắt đầu cho sử dụng thuốc kháng sinh mà không cần phải đợi các kết quả xét nghiệm nhận dạng vi khuẩn cụ thể. – Vi khuẩn có thể phát triển tính năng đề kháng đối với tác dụng của các loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh). – Sử dụng thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) theo chỉ dẫn, thậm chí sau khi các triệu chứng đã biến mất, là rất cần thiết để chữa khỏi hẳn sự nhiễm trùng và ngăn ngừa sự phát triển tính năng đề kháng trong các vi khuẩn. – Các loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) có thể có tác dụng phụ, chẳng hạn như đau dạ dày, tiêu chảy, và nhiễm nấm men âm đạo ở phụ nữ (vaginal yeast infections). – Một vài người bị dị ứng với một số loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh).

Kháng sinh (kháng khuẩn) là các loại thuốc có nguồn gốc hoàn toàn hoặc một phần từ vi khuẩn hoặc các loại nấm mốc, và được dùng để chữa trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra. Chúng không có tác dụng chống lại các bệnh nhiễm trùng do virút và nấm gây ra. Các loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) có tác dụng tiêu diệt các loại vi sinh vật hoặc làm ngưng quá trình sản sinh của chúng, cho phép hệ thống phòng thủ tự nhiên của cơ thể loại bỏ các loại vi sinh vật này.

Mỗi loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) chỉ có tác dụng chống lại một số loại vi khuẩn nhất định. Trong việc lựa chọn loại thuốc kháng sinh để chữa trị cho người bị nhiễm trùng, các bác sĩ sẽ dự đoán loại vi khuẩn có khả năng gây ra bệnh. Ví dụ, một số bệnh nhiễm trùng chỉ do một số loại vi khuẩn nhất định gây ra. Nếu như một loại thuốc kháng sinh được dự đoán là có tác dụng chống lại tất cả các loại vi khuẩn, thì không cần thiết phải xét nghiệm thêm nữa. Nếu tình trạng nhiễm trùng có thể do nhiều loại vi khuẩn khác nhau hoặc một loại vi khuẩn gây ra mà được dự đoán là không bị ảnh hưởng bởi thuốc kháng sinh, thì xét nghiệm sẽ được yêu cầu thực hiện để xác định các loại vi khuẩn gây ra tình trạng nhiễm trùng từ các mẫu máu, nước tiểu, hay mô lấy từ bệnh nhân đó. Các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng này sau đó được thử nghiệm tính nhạy cảm với các loại thuốc kháng sinh khác nhau. Kết quả của các xét nghiệm này thường mất từ một đến hai ngày và do đó không thể chỉ dẫn sự lựa chọn ban đầu về việc sử dụng thuốc kháng sinh.

Các loại kháng sinh (thuốc trụ sinh) có hiệu quả trong phòng thí nghiệm thì không nhất thiết sẽ có tác dụng đối với người bị nhiễm bệnh. Hiệu quả của việc điều trị dựa vào mức độ thuốc được hấp thụ vào máu, số lượng thuốc đến được những nơi bị nhiễm trùng, và tốc độ cơ thể bài tiết thuốc, các yếu tố này khác nhau ở từng người, tùy thuộc vào các loại thuốc khác nhau đang dùng, sự hiện diện của một rối loạn khác, và độ tuổi của người đó. Trong việc lựa chọn thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh), các bác sĩ cũng xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng nhiễm trùng, khả năng gây ra các tác dụng phụ, khả năng gây dị ứng và các phản ứng nghiêm trọng khác của thuốc và giá cả của thuốc.

Sự kết hợp các loại thuốc kháng sinh (thuốc trụ sinh) đôi khi cần thiết để điều trị các trường hợp sau:

– Đối với những bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng, đặc biệt trong suốt những ngày đầu khi mà sự ảnh hưởng của thuốc kháng sinh đối với vi khuẩn chưa được biết rõ. – Một số tình trạng nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra mà phát triển một cách nhanh chóng tính năng đề kháng một loại kháng sinh đơn lẻ. – Các bệnh nhiễm trùng do nhiều loại vi khuẩn gây ra nếu như mỗi loại vi khuẩn bị ảnh hưởng bởi một loại kháng sinh khác nhau.

Bệnh lậu (Gonorrhea) lây truyền một cách dễ dàng và có thể dẫn đến tình trạng vô sinh ở nam và nữ, nếu không được chữa trị. Các loại thuốc kháng sinh có thể ngăn chặn được bệnh nhiễm trùng này.

Các triệu chứng: Các triệu chứng thông thường là cảm giác đau rát khi đi tiểu và chảy mủ, nhưng thường không có các triệu chứng ban đầu. Sau đó, sự nhiễm trùng có thể gây phát ban ở da hoặc lan truyền đến các khớp và máu.

Ở Nam Giới: chảy mủ ở dương vật, sưng tinh hoàn.

Ở Phụ Nữ: Chảy mủ ở âm đạo, đau khung chậu, chảy máu tử cung (thỉnh thoảng, bất thường, và với số lượng nhỏ). Các triệu chứng có thể nhẹ và dễ bị nhầm lẫn với tình trạng nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc nhiễm trùng âm đạo.

Đa số bệnh nhân không chú ý đến các triệu chứng ban đầu của bệnh giang mai (syphilis). Nếu không được chữa trị, căn bệnh có thể dẫn đến tình trạng bại liệt, mù, và tử vong. Bệnh giang mai có thể được chữa trị bằng các loại thuốc kháng sinh.

Các Dấu Hiệu và Các Triệu Chứng: Dấu hiệu ban đầu thường là cảm giác khó chịu gây chú ý và kéo dài ở khu vực bộ phận sinh dục hoặc hậu môn. Căn bệnh này lây truyền bằng việc tiếp xúc trực tiếp khi bị cảm giác khó chịu này. Sau đó, có thể xuất hiện tình trạng phát ban ở lòng bàn chân, lòng bàn tay, hoặc những phần khác của cơ thể (xem hình), cũng như những tuyến bị sưng, sốt, rụng tóc, hoặc cảm giác mệt mỏi. Ở giai đoạn cuối, các triệu chứng phát xuất từ sự hủy hoại các cơ quan như tim, não, gan, dây thần kinh, và mắt.

Chlamydia là một chứng bệnh lây truyền qua đường sinh dục phổ biến mà có thể dẫn đến tình trạng vô sinh nếu không được chữa trị. Chứng bệnh này có thể biến mất một cách nhanh chóng nếu sử dụng thuốc kháng sinh. Nhưng chứng bệnh này thường ra đi âm thầm bởi vì các triệu chứng thường không rõ ràng và thường không xuất hiện. Vi khuẩn Chlamydia cũng có thể lây nhiễm cho trực tràng và cổ họng.

Các Triệu Chứng ở Nam Giới: Cảm giác rát và ngứa ở đầu dương vật, chảy mủ, và đi tiểu bị đau.

Các Triệu Chứng ở Phụ Nữ: Ngứa âm đạo, chảy mủ mà có thể có mùi, bị đau khi quan hệ tình dục, đi tiểu bị đau.

Bệnh Trichomoniasis gây ra bởi một loại ký sinh trùng mà lây truyền qua tiếp xúc tình dục. Chứng bệnh này có thể được chữa khỏi bằng các loại thuốc do bác sĩ kê toa.

Các Dấu Hiệu và Các Triệu Chứng ở Nam Giới: Đa số đàn ông không có các triệu chứng rõ ràng. Một số nam giới phát triển tình trạng chảy mủ nhẹ hoặc cảm giác đau rất nhẹ khi đi tiểu.

Các Dấu Hiệu và Các Triệu Chứng ở Phụ Nữ: Phụ nữ có thể phát triển tình trạng chảy mủ màu vàng xanh nặng mùi, ngứa âm đạo, hoặc cảm giác đau khi quan hệ tình dục hoặc đi tiểu. Các triệu chứng thường bắt đầu từ 5 đến 28 ngày sau khi nhiễm ký sinh trùng này.

Bản thân nó không phải là một chứng bệnh truyền nhiễm qua đường sinh dục, bệnh viêm khung xương chậu (pelvic inflammatory disease – PID) là một biến chứng nghiêm trọng của các chứng bệnh truyền nhiễm qua đường sinh dục mà không được chữa trị, đặc biệt là bệnh chlamydia và bệnh lậu. Nó xảy ra khi vi khuẩn lây nhiễm đến tử cung và các cơ quan sinh sản khác của phụ nữ. Điều trị kịp thời thì rất cần thiết để ngăn ngừa sự tổn thương đến khả năng sinh sản của phụ nữ.

Các Dấu Hiệu và Các Triệu Chứng: Đau vùng bụng dưới, sốt, chảy mủ bất thường, bị đau khi quan hệ tình dục, bị đau khi đi tiểu, và chảy máu tử cung (thỉnh thoảng, bất thường, và với số lượng nhỏ). Thường không có các dấu hiệu cảnh báo.

Bệnh Lyme là một chứng bệnh do vi khuẩn, gây ra bởi một loại vi khuẩn được gọi là “spirochete”, mà có thể lây truyền cho người khi bị các loại ve bị nhiễm khuẩn (Ixodes scapularis và Ixodes pacificus) cắn phải. Tên thật của loại vi khuẩn này ở Hoa Kỳ là Borrelia burgdorferi. Ở Châu Âu, có một loại vi khuẩn khác, gọi là Borrelia afzelii, cũng gây ra bệnh Lyme.

Chùm vi khuẩn rất nhỏ này có tên là Staphylococcus aureus kháng methicillin (methicillin-resistant Staphylococcus aureus – MRSA), được nhìn qua kính hiển vi. Chủng loại này thuộc nhóm vi khuẩn “staph” phổ biến gây nhiễm trùng ở các phần khác nhau của cơ thể – bao gồm da, phổi, và những khu vục khác. MRSA thỉnh thoảng được gọi là “siêu khuẩn – superbug” bởi vì nó có khả năng đề kháng lại nhiều loại thuốc kháng sinh. Mặc dù đa số tình trạng nhiễm trùng do MRSA không nghiêm trọng, nhưng một vài tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa đến tính mạng.

Các nhiễm trùng do MRSA có thể rất giống các nhiễm trùng da thông thường do vi khuẩn staph: một khối u đỏ nhỏ, mụn, hoặc đinh nhọt. Khu vực bị nhiễm có thể bị đỏ, đau nhức, bị sưng, hoặc có cảm giác ấm khi chạm vào. Mủ hoặc các chất dịch khác có thể chảy ra từ vết thương. Đa số các nhiễm trùng da do MRSA thường là nhẹ, nhưng chúng có thể thay đổi, và trở nên ăn sâu vào các mô và trở nên nghiêm trọng hơn.

Sâu bọ cắn, phát ban, và các tình trạng về da khác có thể bị nhầm lẫn với MRSA bởi vì các triệu chứng có thể giống nhau: bị đỏ, sưng, cảm giác ấm, hoặc bị đau. Các bác sĩ phòng cấp cứu (ER doctors) thường hỏi những bệnh nhân mà nhập viện với một vết nhện cắn xem họ có thật sự nhìn thấy con nhện đó không, bởi vì những “vết cắn” này thường hóa ra là do MRSA. Khi một tình trạng nhiễm trùng da lan rộng ra hoặc không cải thiện sau 2-3 ngày dùng thuốc kháng sinh, nó có thể là do MRSA.

MRSA có thể dẫn đến tình trạng viêm tế bào (Cellulitis), một tình trạng nhiễm trùng ở những lớp da và những lớp mô sâu bên dưới. Trên bề mặt, da có màu hồng hoặc đỏ, giống như vết cháy nắng, và có thể có cảm giác ấm, đau, và sưng lên. Viêm tế bào có thể lan rộng ra rất nhanh trong vòng vài giờ.

MRSA thỉnh thoảng có thể gây ra một tình trạng nhiễm trùng sâu hơn được gọi là áp xe (abscess), là một tình trạng tích tụ mủ mà có thể nằm dưới da. Một tình trạng nhiễm trùng da nhẹ mà không được chữa trị hợp lý và kịp thời, có thể phát triển thành chứng áp xe. Loại nhiễm trùng này có thể đòi hỏi phẫu thuật xả mủ và dùng thuốc kháng sinh để chữa trị.

MRSA có thể lây truyền bằng cách tiếp xúc trực tiếp với người bị nhiễm hoặc những vật bạn chạm vào. Các trường hợp trợ giúp việc lây lan MRSA bao gồm: tiếp xúc da; các vết cắt hoặc trầy xước trên da; dùng chung vật dụng vệ sinh cá nhân như dao cạo và khăn tắm; và tiếp xúc với những vật dụng nhiễm vi khuẩn bao gồm nắm cửa và dụng cụ thể dục. Có khoảng một trong 100 người mang vi khuẩn trên người, nhưng không trở bệnh.

Những người mà gần đây tiếp nhận phẫu thuật hoặc nhập viện có nhiều nguy cơ phát triển MRSA. Điều này cũng được tìm thấy ở những người cao tuổi, những người sống trong những nhà dưỡng lão, và những người có hệ thống miễn dịch suy yếu. Một chứng bệnh mãn tính như tiểu đường, ung thư, hoặc HIV sẽ làm gia tăng cơ hội bệnh nhân mắc phải tình trạng nhiễm trùng khó trị này. ( Trở về đầu trang )

Tính năng đề kháng thuốc kháng sinh (antibiotic resistance) là khả năng của một vi sinh vật chống lại những ảnh hưởng của một loại thuốc kháng sinh. Tính năng đề kháng thuốc kháng sinh tiến hóa một cách tự nhiên theo sự chọn lọc tự nhiên (natural selection) bằng sự đột biến gen ngẫu nhiên, nhưng nó cũng có thể được thực hiện bằng việc gây sức ép tiến hóa lên một quần thể vi sinh vật. Sau khi loại gen này được tạo ra, vi khuẩn có thể truyền thông tin di truyền theo chiều ngang (giữa các vi khuẩn) bằng cách trao đổi plasmit (plasmid: một mẫu DNA xoắn kép mạch vòng mà có thể nhân đôi trong tế bào hoàn toàn độc lập với DNA tạo nên nhiễm sắc thể. Plasmit thường được tìm thấy ở vi khuẩn và được sử dụng trong nghiên cứu DNA tái tổ hợp để di chuyển gen giữa các tế bào). Nếu một loại vi khuẩn mang một số gen có tính đề kháng, nó được gọi là đa đề kháng, hoặc gọi nôm na là, siêu khuẩn. Tác dụng kháng sinh là một một áp lực của môi trường; do đó những loại vi khuẩn mà có sự đột biến gen sẽ cho phép chúng tồn tại và tiếp tục sản sinh. Sau đó chúng sẽ di truyền đặc điểm này cho thế hệ sau, mà sẽ là một thế hệ có tính năng đề kháng đầy đủ.

Vi khuẩn, cũng giống như tất cả mọi sinh vật sống, thay đổi theo thời gian để thích ứng với những thay đổi của môi trường. Do việc sử dụng tràn lan và lạm dụng thuốc kháng sinh, nên vi khuẩn thường xuyên tiếp xúc với các loại thuốc này. Mặc dù nhiều vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt khi tiếp xúc với kháng sinh, nhưng cũng có một vài loại phát triển tính năng đề kháng lại tác dụng của các loại thuốc. Ví dụ, cách đây 50 năm, vi khuẩn gram-dương Staphylococcus aureus (nguyên nhân phổ biến gây ra các nhiễm trùng da) rất nhạy cảm với penicillin, nhưng theo thời gian, các chủng vi khuẩn này có khuynh hướng phát triển một loại enzyme có khả năng phân hủy penicillin, làm cho thuốc mất tác dụng. Các nhà nghiên cứu đối phó lại bằng cách phát triển một dạng penicillin mà loại enzyme này không thể phân hủy, nhưng sau một vài năm, vi khuẩn đã thích ứng và trở nên đề kháng lại thuốc penicillin được cải tiến này (tình trạng lờn thuốc). Các loại vi khuẩn khác cũng đã phát triển tính năng đề kháng lại các loại kháng sinh.

Nghiên cứu y học sẽ tiếp tục phát triển các loại thuốc để chống vi khuẩn. Nhưng các bệnh nhân và các bác sĩ có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển tính năng đề kháng của vi khuẩn. Dùng thuốc kháng sinh chỉ khi nào thực sự cần thiết mới có thể giúp ích. Đó là, mọi người nên dùng các loại thuốc kháng sinh chỉ khi bị nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra, không nên dùng cho những trường hợp nhiễm bệnh do các loại virut như cảm lạnh hoặc cảm cúm gây ra. Ngoài ra, việc dùng thuốc kháng sinh được hoàn tất theo thời gian quy định cũng giúp hạn chế được sự phát triển tính năng đề kháng ở vi khuẩn. ( Trở về đầu trang )

Đối với các trường hợp nhiễm trùng nặng do vi khuẩn, ban đầu các loại thuốc kháng sinh thường được tiêm (thường vào tĩnh mạch nhưng đôi khi tiêm vào cơ). Khi tình trạng nhiễm trùng được kiểm soát, các loại thuốc kháng sinh có thể dùng để uống. Đối với các trường hợp nhiễm trùng ít nghiêm trọng hơn, các loại thuốc kháng sinh có thể được uống bằng miệng ngay từ đầu.

Kháng sinh cần phải được dùng cho đến khi vi khuẩn lây nhiễm bị loại bỏ hoàn toàn ra khỏi cơ thể, mà có thể là vài ngày sau khi các triệu chứng biến mất. Vì vậy, người bệnh phải dùng thuốc kháng sinh theo toàn bộ thời gian theo quy định cho dù có xuất hiện các triệu chứng hay không. Các loại thuốc kháng sinh hiếm khi được bác sĩ cho sử dụng ít hơn 5 ngày. (Một trường hợp ngoại lệ là một số bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu không phức tạp). Việc ngưng dùng thuốc quá sớm có thể dẫn đến tình trạng nhiễm trùng bị tái lại hoặc sự phát triển tính năng đề kháng của vi khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh.

Bác sĩ, y tá hoặc dược sĩ có thể giải thích cách thức sử dụng thuốc kháng sinh như thế nào và các tác dụng phụ mà nó có thể gây ra. Một vài loại thuốc kháng sinh phải được uống trong lúc dạ dày còn trống (chưa ăn). Một vài loại khác có thể được dùng cùng với thức ăn. Metronidazole, là một loại thuốc kháng sinh thông dụng, nó gây ra phản ứng khó chịu với rượu. Ngoài ra, một số thuốc kháng sinh có thể tương tác với các loại thuốc khác mà bệnh nhân đang dùng, có khả năng làm giảm hiệu quả hoặc làm tăng tác dụng phụ của thuốc kháng sinh hoặc các loại thuốc đó. Một số loại thuốc kháng sinh làm cho da bị nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.

Thuốc kháng sinh đôi khi được dùng để ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng (gọi là phép phòng bệnh). Các thuốc kháng sinh có thể được dùng cho những người đã tiếp xúc với người bị bệnh viêm màng não để ngăn ngừa bệnh viêm màng não phát triển. Một vài người có van tim bất thường hoặc van tim nhân tạo nên dùng thuốc kháng sinh trước khi làm các thủ thuật về nha khoa và các tiến trình phẫu thuật để ngăn ngừa vi khuẩn lây nhiễm đến các van bị tổn thương hoặc các van nhân tạo (các tiến trình đó có thể cho phép vi khuẩn đi vào cơ thể). Những người tiến hành phẫu thuật với nguy cơ bị lây nhiễm cao (như là thủ thuật chỉnh hình hoặc phẫu thuật đường ruột quan trọng) có thể dùng thuốc kháng sinh ngay lập tức trước khi làm phẫu thuật. Để có được hiệu quả và tránh sự phát triển tính năng đề kháng của vi khuẩn, các loại thuốc kháng sinh phòng bệnh chỉ nên dùng trong một thời gian ngắn. Thuốc kháng sinh cũng có thể được dùng cho những người có hệ thống miễn dịch suy yếu, chẳng hạn như những người bị bệnh bạch cầu, những người đang hóa trị ung thư, hoặc những người bị bệnh AIDS, bởi vì những người như thế rất dễ bị nhiễm trùng nghiêm trọng. Họ có thể cần phải dùng thuốc kháng sinh trong một thời gian dài. ( Trở về đầu trang )

Có một số dụng cụ truyền thuốc kháng sinh khá đơn giản đủ để bệnh nhân và các thành viên trong gia đình họ có thể học cách tự sử dụng tại nhà. Trong những trường hợp khác, một y tá sẽ đến nhà để truyền mỗi liều thuốc. Trong cả hai trường hợp, người bệnh có thể được theo dõi cẩn thận để đảm bảo rằng thuốc kháng sinh đang được sử dụng đúng cách và để quan sát khả năng xảy ra các biến chứng và các tác dụng phụ.

Các tác dụng phụ thường gặp của thuốc kháng sinh bao gồm đau bụng, tiêu chảy, và ở phụ nữ, là nhiễm trùng men âm đạo (vaginal yeast infection). Một vài tác dụng phụ nghiêm trọng hơn, tùy thuộc vào loại thuốc kháng sinh, có thể làm suy yếu các chức năng của thận, gan, tủy xương, hoặc các cơ quan khác. Xét nghiệm máu đôi khi cũng được sử dụng để kiểm tra những ảnh hưởng lên thận và các chức năng nội tạng khác.

Một số người dùng thuốc kháng sinh, đặc biệt là cephalosporins, clindamycin, hoặc fluoroquinolones, sẽ phát triển chứng viêm kết tràng, một tình trạng viêm sưng ruột già. Loại viêm kết tràng này là do một độc tố do loại vi khuẩn Clostridium difficile sản sinh, mà loại vi khuẩn này đề kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh và chúng sẽ sinh trưởng một cách không kiểm soát trong ruột khi các vi khuẩn bình thường khác trong ruột đã bị tiêu diệt bởi các loại thuốc kháng sinh.

Các loại thuốc kháng sinh cũng có thể gây ra các phản ứng dị ứng. Phản ứng dị ứng nhẹ bao gồm một tình trạng phát ban (mề đay) gây ngứa hoặc thở khò khè nhẹ. Các phản ứng dị ứng nghiêm trọng (phản ứng phản vệ – anaphylaxis) có thể đe dọa đến tính mạng và thường bao gồm sưng cổ họng, khó thở, và huyết áp thấp.

Các Loại Thuốc Kháng Sinh Chữa Viêm Họng

Dùng thuốc kháng sinh chữa viêm họng mang lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng cách, nó có thể gây ra nhiều tác hại cho bệnh nhân. Hiểu rõ mặt lợi và hại khi dùng kháng sinh khi điều trị viêm họng sẽ giúp bệnh nhân chủ động hơn trong việc điều trị và phòng ngừa để tránh gặp phải các vấn đề không mong muốn.

Kháng sinh là gì?

Ngày nay, từ “kháng sinh” là thuật ngữ không còn xa lạ gì đối với chúng ta. Vì nó là loại thuốc quen thuộc được dùng để điều trị nhiều bệnh lý. Tuy nhiên, ít ai biết được bản chất thật sự của loại thuốc này. Vậy thực chất, kháng sinh là gì?

Theo định nghĩa, kháng sinh là thuật ngữ được dùng để chỉ các chất có nguồn gốc sinh học, bán tổng hợp hoặc tổng hợp được sử dụng dưới liều điều trị. Loại thuốc này có tác dụng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Và nó cũng chỉ có tác dụng chữa trị đối với các bệnh do vi khuẩn gây ra mà thôi. Do đó kháng sinh là loại thuốc được dùng để chữa nhiều bệnh lý, trong đó có viêm họng.

Các loại thuốc kháng sinh chữa viêm họng phổ biến hiện nay

Bệnh viêm họng phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau. Điển hình như vi khuẩn bị xâm nhập bởi vi khuẩn, virus, sinh sống và làm việc tại môi trường ô nhiễm, dị ứng, mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản… Tuy nhiên thuốc kháng sinh chỉ được sử dụng cho những trường hợp bị viêm họng do nhiễm vi khuẩn.

Dựa vào từng trường hợp cụ thể (loại vi khuẩn gây bệnh, mức độ nhiễm trùng và viêm, khả năng phát sinh những rủi ro không mong muốn…), các loại thuốc kháng sinh dùng trong chữa viêm họng ở mỗi người không giống nhau.

Thông thường ở những trường hợp viêm họng do nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân sẽ được bác sĩ chuyên khoa chỉ định điều trị với những loại kháng sinh sau:

1. Nhóm kháng sinh Beta – lactam

Nhóm kháng sinh Beta – lactam được dùng phổ biến trong quá trình điều trị bệnh viêm họng do virus. Nhóm kháng sinh này có khả năng làm biến dạng hoặc làm ly giải vi khuẩn, ức chế tạo vách vi khuẩn và cải thiện tốt tình trạng viêm nhiễm ở vùng hầu họng.

Những loại thuốc thuộc nhóm kháng sinh Beta – lactam gồm:

Dựa vào đặc tính, Penicillin được chia thành 2 loại. Bao gồm: Penicillin V (được bào chế dưới dạng đường uống) và Penicillin. G (được bào chế dưới dạng tiêm tĩnh mạch). So với Penicillin V, Penicillin. G được chỉ định phổ biến hơn cho những bệnh nhân bị viêm họng. Ngoài dạng tiêm tĩnh mạch, Penicillin. G còn được bào chế ở dạng viên nén và dạng bột tan.

Penicillin hoạt động bằng cách ức chế khả năng tổng hợp vỏ tế bào của vi khuẩn. Tuy nhiên tác dụng này lại bị giảm đau bởi những beta – lactamase và penicilinase khác. Mặt khác, Penicillin. G không bền khi tiếp xúc với môi trường acid. Vì thế loại thuốc này thường được dùng bằng đường tiêm (đặc biệt là đường tiêm tĩnh mạch), không được dùng bằng đường uống.

Cách sử dụng

Penicillin V được dùng bằng đường miệng, nuốt trọn một viên thuốc cùng với nước.

Penicillin. G được dùng bằng đường tiêm tĩnh mạch.

Liều dùng

Liều dùng Penicillin V điều trị bệnh viêm họng

Đối với người lớn

Liều khuyến cáo: Dùng 500mg/ lần x 2 – 3 lần/ ngày.

Đối với trẻ em

Trẻ em dưới 27kg: Dùng 250mg/ lần x 2 – 3 lần/ ngày.

Trẻ em trên 27kg: Dùng 500mg/ lần x 2 – 3 lần/ ngày.

Liều tối đa: 2 gram/ ngày.

Thời gian điều trị: Kéo dài 10 ngày.

Liều dùng Penicillin. G điều trị viêm họng nặng

Dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Tác dụng phụ thường gặp Tác dụng phụ ít gặp (nguy hiểm)

Sốt, ớn lạnh

Đi ngoài có máu hoặc tiêu chảy ở dạng lỏng

Đi tiểu ít hoặc bị ứ

Chảy máu bất thường hoặc bầm tím

Bong tróc, ngứa, phát ban

Co giật

Thay đổi tâm trạng, hành vi

Sốc phản ứng

Co giật

Giảm tiểu cầu.

Để điều trị bệnh viêm họng và các triệu chứng, bác sĩ có thể ghi cho bạn một đơn thuốc có chứa thuốc Amoxicillin (thuốc kháng sinh thuộc nhóm penicillin). Loại thuốc này có khả năng tiêu diệt một số loại vi khuẩn gây bệnh. Vì thế, Amoxicillin được chỉ định để điều trị nhiều tình trạng nhiễm trùng khác nhau. Cụ thể như viêm họng, nhiễm trùng tai mũi họng, viêm phổi, viêm amidan, viêm phế quản, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng da.

Ngoài ra, Amoxicillin có thể được chỉ định cùng với các loại thuốc khác trong điều trị loét dạ dày tá tràng phát sinh do vi khuẩn H. pylori hoặc phòng ngừa viêm loét tái phát. Thuốc Amoxicillin không có tác dụng đối với những trường hợp nhiễm virus (điển hình như cúm, cảm lạnh).

Cách sử dụng

Thuốc Amoxicillin được sử dụng bằng đường miệng.

Liều dùng

Tùy thuộc vào dạng bào chế và độ tuổi mắc bệnh. liều dùng thuốc Amoxicillin trong điều trị bệnh viêm họng ở mỗi bệnh nhân không giống nhau.

Liều dùng thuốc Amoxicillin trong điều trị bệnh viêm họng ở người lớn

Đối với viên phóng thích tức thời Đối với viên phóng thích kéo dài

Liều khuyến cáo: Uống 775mg/ lần/ ngày, uống thuốc trong vòng 1 giờ sau bữa ăn.

Thời gian sử dụng: Kéo dài trong 10 ngày.

Amoxicillin dạng viên phóng thích kéo dài phù hợp với những bệnh nhân mắc bệnh nhiễm trùng thứ phát, điển hình như nhiễm trùng do Streptococcus pyogenes.

Liều dùng thuốc Amoxicillin trong điều trị bệnh viêm họng ở trẻ em từ 4 tuần tuổi đến 12 tuổi

Trẻ em từ 4 tuần tuổi đến 3 tháng tuổi

Liều khuyến cáo: Uống 20 đến 30mg/ kg trọng lượng/ ngày. Chia thành 2 lần dùng, cách nhau 12 giờ.

Trẻ em từ 4 tháng tuổi đến 12 tuổi

Liều khuyến cáo: Uống 20 đến 50mg/ kg trọng lượng/ ngày. Chia thành nhiều lần dùng, cách nhau từ 8 – 12 giờ.

Liều dùng thuốc Amoxicillin trong điều trị bệnh viêm họng ở trẻ em trên 12 tuổi

Đối với viên phóng thích tức thời Đối với viên phóng thích kéo dài

Liều khuyến cáo: Uống 775mg/ lần/ ngày, uống thuốc trong vòng 1 giờ sau bữa ăn.

Thời gian sử dụng: Kéo dài trong 10 ngày.

Amoxicillin dạng viên phóng thích kéo dài phù hợp với những bệnh nhân mắc bệnh nhiễm trùng thứ phát, điển hình như nhiễm trùng do Streptococcus pyogenes.

Tác dụng phụ thường gặp Tác dụng phụ nghiêm trọng

Vàng da, da tái

Sốt, nổi mẩn ngứa, sưng hạch, đau khớp

Lở loét trên môi hoặc trong miệng

Suy nhược cơ nặng

Dị ứng da nghiêm trọng…

Cephalexin (Cefalexin) là thuốc kháng sinh được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng xảy ra do vi khuẩn. Sau khi được đưa vào cơ thể, loại thuốc này sẽ hoạt động bằng cách ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Từ đó giúp phòng ngừa và điều trị tình trạng viêm hiệu quả.

Cephalexin không được sử dụng để điều trị bệnh viêm họng hoặc các dạng nhiễm trùng khác do virus. Ngoài ra việc sử dụng các loại kháng sinh khác cũng làm giảm hiệu quả chữa bệnh của Cephalexin.

Ngoài bệnh viêm họng do vi khuẩn và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp khác, Cephalexin có thể được dùng trong dự phòng nhiễm trùng tim mạch nghiêm trọng (điển hình như viêm màng trong tim do vi khuẩn) và được chỉ định ở những bệnh nhân mắc bệnh lý về tim mạch trước khi phẫu thuật nha khoa.

Cách sử dụng

Đối với Cephalexin dạng viên nén hoặc viên nang, người bệnh nuốt trọn viên thuốc với nước lọc. Đối với Cephalexin dạng dung dịch, người bệnh cần dùng thuốc bằng đường miệng và lắc đều trước khi dùng.

Liều dùng thuốc Cephalexin cho người lớn mắc bệnh viêm họng do nhiễm Streptococcus

Liều dùng thuốc Cephalexin cho trẻ em

Dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ thường gặp của Cephalexin:

Ceftriaxone là thuốc kháng sinh được bào chế dưới dạng thuốc tiêm. Loại thuốc này được sử dụng để điều trị các dạng nhiễm trùng xảy ra do vi khuẩn. Trong đó đó có bệnh viêm họng thể nặng. Thuốc Ceftriaxone sau khi được sử dụng sẽ giúp bệnh nhân ức chế hoạt động và sự tăng trưởng của vi khuẩn.

Cách sử dụng

Thuốc Ceftriaxoned được bào chế dưới dạng thuốc tiêm. Vì thế loại thuốc này được sử dụng bằng đường tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp theo yêu cầu và sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Liều dùng thuốc

Liều dùng thuốc Ceftriaxone được điều chỉnh dựa vào khả năng điều trị và tình trạng sức khỏe.

Thông thường liều dùng Ceftriaxone 1 – 2 gram sẽ được sử dụng để tiêm bắp hoặc tim tĩnh mạch mỗi ngày, có thể chia thuốc thành 2 lần sử dụng dựa vào mức độ nhiễm trùng.

Tổng liều Ceftriaxone dùng hàng ngày không nên vượt quá 4 gram.

Liều dùng Ceftriaxone thông thường đối với người lớn bị nhiễm khuẩn Liều dùng Ceftriaxone thông thường đối với trẻ em bị nhiễm trùng Đối với trẻ em dưới 1 tuần

Liều khuyến cáo: Dùng 50mg/ kg trọng lượng/ ngày, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

Đối với trẻ em nặng dưới 2kg và trẻ từ 1 – 4 tuần tuổi

Liều khuyến cáo: Dùng 50mg/ kg trọng lượng/ ngày, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

Đối với trẻ em nặng trên 2kg và trẻ từ 1 – 4 tuần tuổi

Liều khuyến cáo: Dùng 50 – 75mg/ kg trọng lượng/ ngày, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Không dùng thuốc cho trẻ sơ sinh bị tăng bilirubin máu.

Đối với trẻ em bị nhiễm trùng nặng và có độ tuổi từ 1 tháng tuổi trở lên Đối với trẻ em bị nhiễm trùng đe dọa đến tính mạng và có độ tuổi từ 1 tháng tuổi trở lên Tác dụng phụ

Những tác dụng phụ có thể phát sinh khi chữa bệnh với Ceftriaxone:

Đổ mồ hôi

Khó chịu hoặc ngứa âm đạo

Sưng dưới lưỡi

Phản ứng thái quá

Đau đầu chóng mặt

Buồn nôn, nôn mửa

Đau dạ dày

Kích ứng, đau hoặc có cục cứng nơi tiêm

Tiêu chảy

Co giật…

2. Nhóm kháng sinh Macrolid

Ngoài kháng sinh nhóm Beta – lactam, bệnh nhân bị viêm họng cũng có thể được bác sĩ chuyên khoa chỉ định sử dụng các thuốc kháng sinh thuộc nhóm Macrolid trong điều trị bệnh viêm họng.

Những loại kháng sinh thuộc nhóm Macrolid được sử dụng phổ biến:

Clarithromycin

Clarithromycin được xác định là loại kháng sinh macrolid bán tổng hợp. Loại thuốc này có tác dụng kìm khuẩn, diệt các chủng vi khuẩn nhạy cảm hoặc dùng liều cao để diệt các vi khuẩn mạnh hơn.

Thuốc Clarithromycin ức chế hoạt động tổng hợp protein ở những loại vi khuẩn nhạy cảm bằng cách tăng cường hoạt động và gắn với tiểu đơn vị 50S ribosom.

Thông thường loại thuốc này được sử dụng để thay thế cho thuốc penicilin ở những trường hợp bị dị ứng nhưng có dấu hiệu bị nhiễm vi khuẩn nhạy cảm. Cụ thể như bệnh viêm họng, viêm amidan, viêm xoang cấp, viêm tai giữa, viêm phổi, viêm phế quản, viêm các mô mềm và viêm da.

Cách sử dụng

Thuốc Clarithromycin được sử dụng bằng đường miệng, có thể dùng với thức ăn hoặc không với thức ăn. Thời gian điều trị nhiễm khuẩn với Clarithromycin khác nhau ở mỗi người do cần phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và từng loại nhiễm khuẩn. Tuy nhiên thời gian dùng thuốc thường kéo dài từ 7 đến 14 ngày.

Liều dùng Liều dùng thuốc Clarithromycin cho người lớn bị nhiễm khuẩn đường hô hấp

Liều khuyến cáo: Dùng từ 250 – 500mg/ lần x 2 lần/ ngày.

Liều dùng thuốc Clarithromycin cho người bị suy thận nặng mắc chứng nhiễm khuẩn đường hô hấp

Liều khuyến cáo: Dùng 250mg/ lần/ ngày.

Liều dùng thuốc Clarithromycin cho người lớn bị nhiễm khuẩn đường hô hấp nặng

Liều khuyến cáo: Dùng 250mg/ lần x 2 lần/ ngày.

Liều dùng thuốc Clarithromycin cho trẻ em bị nhiễm trùng đường hô hấp Liều dùng thuốc Clarithromycin cho trẻ em bị viêm phổi cộng đồng

Liều khuyến cáo: Dùng 15mg/ kg trọng lượng/ lần x 2 lần/ ngày, dùng cách nhau 12 tiếng.

Tác dụng phụ

Những tác dụng phụ xảy ra trong thời gian chữa bệnh với Clarithromycin

Tác dụng phụ thường gặp

Rối loạn đường tiêu hóa

Phản ứng dị ứng

Viêm đại tràng màng giả

Nổi mề đay, ngứa ngáy, ban da, kích thích.

Tác dụng phụ ít gặp Azithromycin

Azithromycin được xác định là một loại kháng sinh mới, loại thuốc này có hoạt phổ rộng thuộc nhóm macrolid, có tên gọi khác là azalid. Khi được đưa vào cơ thể, azithromycin có khả năng diệt vi khuẩn mạnh bằng cách tác động và gắn với ribosomd ở loại vi khuẩn gây bệnh, đồng thời ức chế quá trình tổng hợp protein của chúng.

Tuy nhiên bệnh nhân cần lưu ý Azithromycin kháng chéo với Erythromycin. Vì thế người bệnh cần cân nhắc trước khi sử dụng loại thuốc này.

Thuốc Azithromycin mang đến hiệu quả điều trị cao khi tiếp xúc với những loại vi khuẩn Gram dương như Staphylococcus aureus, Streptococcus, Pneumococcus. Ngoài ra Azithromycin còn có tác dụng đối với những chủng vi khuẩn nhạy cảm khác như Propionibacterium acnes, Clostridium perfringens, Peptostreptococcus, Corynebacterium diphtheriae

Thuốc Azithromycin mang đến hiệu quả điều trị đối với vi khuẩn Gram âm như Parainfluenzae, Haemophilus influenzae và nhiều chủng vi khuẩn khác. Vì thế loại thuốc này thường được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên, điển hình như viêm họng, viêm amidan, viêm xoang.

Cách dùng

Sử dụng thuốc Azithromycin bằng đường miệng, uống thuốc khoảng 2 giờ sau khi ăn hoặc 1 giờ trước bữa ăn.

Liều dùng thuốc Azithromycin đối với người lớn trong điều trị viêm họng Liều dùng thuốc Azithromycin đối với người cao tuổi trong điều trị viêm họng Liều dùng thuốc Azithromycin đối với trẻ em trong điều trị viêm họng Tác dụng phụ

Những tác dụng phụ của Azithromycin:

Tác dụng phụ thường gặp Tác dụng phụ ít gặp Tác dụng phụ hiếm gặp

Phản ứng phản vệ

Phù mạch

Giảm nhẹ bạch cầu trung tính nhất thời

Men transaminase tăng cao.

Erythromycin

Erythromycin là thuốc kháng sinh điều trị viêm họng và đường hô hấp thuộc nhóm Macrolid. Loại thuốc này có tác dụng kìm khuẩn đối với vi khuẩn Gram âm, vi khuẩn Gram dương, Rickettsia, Mycoplasma, Spirochetes và Chlamydia.

Cách dùng

Thuốc Erythromycin được bào chế dưới dạng viên nén bao phim. Thuốc nên được uống vào lúc đói hoặc dùng thuốc với thức ăn nếu bị kích ứng tiêu hóa.

Liều dùng Liều dùng thuốc Erythromycin đối với người lớn bị nhiễm khuẩn nặng Liều dùng thuốc Erythromycin thông thường đối với trẻ em

Liều khuyến cáo: Dùng 30 – 50mg/ kg/ trọng lượng/ ngày.

Liều dùng thuốc Erythromycin đối với trẻ em bị nhiễm khuẩn nặng

Liều khuyến cáo: Dùng 60 – 100mg/ kg/ trọng lượng/ ngày.

Liều dùng thuốc Erythromycin đối với trẻ em từ 2 – 8 tuổi

Liều khuyến cáo: Dùng 1 gram/ ngày, chia thuốc thành 2 – 4 lần dùng.

Liều dùng thuốc Erythromycin đối với trẻ em dưới 2 tuổi

Liều khuyến cáo: Dùng 500mg/ ngày, chia thuốc thành 2 – 4 lần dùng.

Tác dụng

Các tác dụng phụ có thể phát sinh khi dùng Erythromycin:

Tác dụng phụ thường gặp Tác dụng phụ ít gặp Tác dụng phụ hiếm gặp

Phân tích lợi – hại khi dùng kháng sinh trị viêm họng

Lợi ích:

Cũng tương tự như các loại thuốc tây khác, lợi ích khi dùng kháng sinh chữa viêm họng mà chúng ta dễ nhận thấy đó là mang đến tác dụng mau chóng. Những loại thuốc này khi được đưa vào cơ thể, nó sẽ ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn tồn tại trong cổ họng. Các cơn đau họng, khàn tiếng và những triệu chứng bệnh khác cũng vì vậy mà giảm đi. Thêm vào đó, cách sử dụng thuốc tây cũng đơn giản, gọn lẹ nên rất thuận tiện cho bệnh nhân. Người bệnh chỉ cần nhớ được đơn thuốc đã được dược sĩ hoặc bác sĩ chỉ định. Chính vì mang đến nhiều lợi ích dùng thuốc kháng sinh chữa viêm họng vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của nhiều bệnh nhân..

Tác hại:

Mặc dù được biết đến là biện pháp thuận tiện và đem lại hiệu quả nhanh. Tuy nhiên, nếu dùng không đúng cách, kháng sinh lại có thể gây ra nhiều vấn đề bất lợi cho sức khỏe của bệnh nhân.

*) Gây lãng phí, tăng khả năng kháng thuốc của vi khuẩn:

Như đã được đề cập, thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng đối với các bệnh lý do vi khuẩn gây ra. Mà viêm họng lại có thể xảy ra do nhiều yếu tố, chẳng hạn như: Virus, liên cầu khuẩn, cảm thông thường, thời tiết thay đổi đột ngột, dị ứng, môi trường bị ô nhiễm… Nếu chưa được thăm khám và chẩn đoán để tìm chính xác nguyên nhân gây bệnh mà dùng kháng sinh, nó sẽ gây lãng phí. Điều này không những không chữa được bệnh mà còn làm tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc.Chúng sẽ có khả năng thích ứng hoặc có sự biến đổi gen trên nhiễm sắc thể để kiểm soát sự nhạy cảm với thuốc. Hệ quả là nó không những không bị tiêu diệt mà còn có khả năng phát triển thành “chủng” vi khuẩn mới. Lúc này, kháng sinh sẽ không còn tác dụng đối với chúng, ảnh hưởng xấu đến việc dùng thuốc để điều trị cho những bệnh lý sau này.

Kháng sinh không phải bao giờ cũng là sự lựa chọn đúng. Do đó để tránh gặp phải vấn đề này, trước khi chữa bệnh viêm họng bằng loại thuốc trên, cần phải đi khám và tiến hành xét nghiệm kỹ lưỡng. Trong trường hợp mắc bệnh do vi rút hoặc các nguyên nhân khác mà không phải là vi khuẩn, tuyệt đối không được điều trị bằng biện pháp này.

*) Tăng nguy cơ mắc tác dụng phụ:

Tương tự như các loại thuốc tây khác, gây ra nhiều tác dụng phụ cũng là một tác hại khi dùng kháng sinh chữa viêm họng. Sử dụng không đúng cách, thuốc sẽ dễ gây ra các phản ứng dị ứng, mẫn cảm, các biểu hiện rối loạn đường tiêu hóa như tiêu chảy, đau bụng… Thậm chí, một số trường hợp còn bị sốc phản vệ, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của bệnh nhân.

Một vài lưu ý khi dùng kháng sinh điều trị viêm họng

Bên cạnh mặt lợi, dùng kháng sinh chữa viêm họng cũng có thể gây ra nhiều tác hại. Để tránh gặp phải những vấn đề không mong muốn, khi chữa trị viêm họng, bệnh nhân cần chú ý một số điều sau đây:

ThuocDanToc.vn không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Các Loại Thuốc Kháng Sinh Điều Trị Viêm Nướu Răng

Điều trị viêm nướu răng bằng thuốc kháng sinh là một trong những phương án điều trị được nhiều bệnh nhân nhắm đến để cải thiện tình trạng viêm nhiễm trong vùng khoang miệng. Tuy nhiên, việc điều trị bằng thuốc kháng sinh có thể gây nên một số tác dụng phụ ngoài sự mong đợi. Do đó, người bệnh cần lưu ý những vấn đề gì trong việc điều trị viêm nướu răng bằng một số loại thuốc kháng sinh.

Các loại thuốc kháng sinh điều trị viêm nướu răng

Viêm nướu răng là một trong những bệnh lý có diễn biến khá phức tạp trong khoang miệng. Căn bệnh này được hình thành do một số loại gây nên tình trạng viêm. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của nhiều nguyên nhân khác như: chế độ ăn uống kém, hút thuốc lá, cơ thể thay đổi nội tiết tố, lạm dụng thuốc Tây y,… Bệnh viêm nướu răng nếu không được tiến hành điều trị càng sớm càng tốt có thể gây nên một số biến chứng gây bất lợi về mặt sức khỏe cơ thể và cả sức khỏe răng miệng. Do đó, người bệnh nên tiến hành điều trị bệnh càng sớm càng tốt.

Trị bệnh viêm nướu răng bằng thuốc kháng sinh cũng chính là một phương án điều trị được nhiều bệnh nhân lựa chọn. Thuốc kháng sinh có thể được sử dụng dưới dạng viên uống hoặc gel bôi trực tiếp lên túi nướu bị tổn thương. Chúng có tác dụng diệt khuẩn, giảm viêm, giảm sưng đau và ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng tái phát.

Một số loại thuốc kháng sinh được chỉ định điều trị viêm nướu răng bao gồm:

Thuốc kháng sinh có tác dụng giảm đau (Paracetamol, Aspirin,…)

Thuốc kháng sinh có tác dụng giảm đau và kháng viêm (Amoxicyclin, Doxycyclin, Tetracylin, Spiramycin,… phối hợp cùng với thuốc Metronidazol)

Thuốc Metronidazol: Đây là loại thuốc kháng sinh có tác dụng tiêu diệt các loại vi khuẩn ở hệ đường ruột. Loại thuốc này thường phối hợp cùng với thuốc Spiramycin để điều trị chứng viêm nướu răng và một số bệnh lý thuộc vùng răng miệng khác;

Thuốc Spiramycin: Có tác dụng tiêu diệt các loại vi khuẩn cư trú trong khoang miệng gây nên tình trạng viêm nhiễm;

Thuốc Amoxicillin và thuốc Phenoxymethylpenicilin: Là hai loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm Beta – lactam có tác dụng điều trị tình trạng nhiễm khuẩn nướu, lợi và cả khoang miệng. Ngoài ra, loại thuốc kháng sinh này còn có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn tụ cầu và liên cầu;

Thuốc Erythromycin: Là thuốc kháng sinh có tác dụng loại trừ các loại vi khuẩn gây viêm nhiễm;

Thuốc Doxycycline: Đây là loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm Tetracyclin có tác dụng tiêu diệt các loại vi khuẩn răng miệng phổ biến.

Một lộ trình sử dụng thuốc kháng sinh trị viêm nướu răng thường kéo dài trong 7 ngày và có thể hơn nếu thật sự cần thiết. Tuy nhiên, người bệnh phải tuân thủ mọi quy định sử dụng thuốc của bác sĩ và không được tự ý tăng liều và thời gian sử dụng thuốc khi chưa được phép.

Một số lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh điều trị bệnh viêm nướu răng

Sử dụng thuốc kháng sinh trong việc trị viêm nướu răng không thể không tránh khỏi một số tác dụng phụ ngoài mong muốn, do đó, bạn nên tuân thủ mọi nguyên tắc sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, cụ thể hơn:

Trước khi sử dụng thuốc kháng sinh để trị viêm nướu răng, người bệnh cần biết chính xác nguyên nhân gây bệnh và mức độ nhảy cảm của cơ thể đối với thuốc kháng sinh, từ đó đưa ra những phương án sử dụng thuốc phù hợp;

Người bệnh nên sử dụng thuốc kháng sinh có phổ kháng khuẩn hẹp chất. Điều này có thể làm giảm các nguy cơ phát triển vi khuẩn kháng thuốc;

Người bệnh không được tự ý kết hợp nhiều loại thuốc kháng sinh cùng một lúc để trị viêm nướu răng. Ngoại trừ sự kết hợp giữ thuốc Amoxicillin với Metronidazol hoặc thuốc Cephalosporin với Metronidazol. Việc kết hợp thuốc sử dụng không đúng cách có thể làm tăng nguy cơ mắc phải tác dụng phụ;

Phụ nữ đang hoặc đang trong quá trình cho con bú tuyệt đối không nên sử dụng thuốc kháng sinh để trị viêm nướu răng. Bởi vì, trong thuốc kháng sinh có thể có chứa một số thành phần có thể làm ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thai nhi và trẻ nhỏ. Thay vì sử dụng các loại thuốc này để cải thiện các triệu chứng viêm nướu răng, các đối tượng này có thể sử dụng một số mẹo vặt trong dân gian với các nguyên liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên;

Đối với trẻ nhỏ bị viêm nướu răng, quý phụ huynh nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi cho trẻ sử dụng thuốc. Một số thuốc trị viêm nướu răng cho trẻ có thể là những sản phẩm như: thuốc trị sưng nướu Kamistad, thuốc Xanh Methylen, thuốc Ceelin bổ sung vitamin C,…;

Trong quá trình sử dụng thuốc kháng sinh để trị viêm nướu răng, nếu không may gặp phải bất kỳ triệu chứng bất thường nào như: buồn nôn, nôn, chóng mặt, hoa mắt,… điều đầu tiên bạn nên làm là tạm ngưng việc sử dụng thuốc một thời gian và tìm gặp bác sĩ để được hỗ trợ.

Ngoài những vấn đề cần lưu ý trên, người bệnh cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống, sinh hoạt và cách chăm sóc răng miệng tại nhà để bệnh viêm nướu răng được cải thiện một cách nhanh chóng. Chẳng hạn như:

Vệ sinh răng miệng mỗi ngày ít nhất 2 lần vào mỗi buổi sáng thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ;

Người bệnh nên sử dụng bàn chải đánh răng có các sợi tơ mềm và nên thay định kỳ 3 tháng 1 lần. Không nên sử dụng các loại bàn chải cứng, thô, sợi tơ to, điều này có thể khiến cho nướu bị chảy máu nếu đánh răng không cận thận va phải vết thương;

Cần có sự lựa chọn kem đánh răng thông minh, tốt nhất bạn nên biết các loại kem đánh răng được đánh giá tốt cho các đối tượng bị viêm nướu răng;

Ngoài việc vệ sinh răng miệng bằng kem đánh răng, người bệnh cũng có thể sử dụng thêm nước súc miệng để làm sạch khoang miệng, loại bỏ các loại vi khuẩn gây hại;

Nên sử dụng các thực phẩm hay thức ăn mềm để hạn chế tối đa việc nhai hoặc nghiền nát thức ăn;

Hạn chế tối đa việc sử dụng các thực phẩm cứng, thức ăn nhiều dầu mỡ, cay, nóng, bia, rượu, đặc biệt là thuốc lá người bệnh không nên sử dụng.

Việc sử dụng thuốc kháng sinh chỉ là giải pháp điều trị tạm thời đối với các trường hợp nhẹ và trung bình, người bệnh phải thường xuyên theo dõi công dụng và tiềm năng của các phản ứng bất lợi. Đối với các trường hợp bệnh trở nặng hoặc ở giai đoạn nghiêm trọng, tốt nhất bạn cần nhanh chóng tìm đến các cơ sở khám chữa bệnh uy tín để được điều trị càng sớm càng tốt.

Các Loại Thuốc Kháng Sinh Chữa Viêm Họng Phổ Biến Nhất. Viêm Họng Có Nên Uống Kháng Sinh?

Như các bạn đã biết, viêm họng là một bệnh lý viêm nhiễm đường hô hấp rất dễ gặp, đặc biệt là khi thời tiết chuyển mùa. Khi bị viêm họng, cơ thể người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng như đau họng kéo dài, khi nuốt và thở đều thấy khó khăn, ngứa rát cổ họng, họ khan, sốt, đau đầu, buồn nôn…

Nguyên nhân gây viêm họng là do dâu?

Lúc này, việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh chữa viêm họng sẽ là giải pháp nhanh chóng và hiệu quả để trị bệnh. Nhưng để sử dụng thuốc kháng sinh trị viêm họng thì người bệnh cần phải biết rõ về nguyên nhân gây bệnh.

Viêm họng do nhiều nguyên nhân gây ra như do vi khuẩn, virus, ảnh hưởng của thay đổi thời tiết, hít phải khói, hóa chất độc hại, bị lây nhiễm bệnh từ người khác… Mỗi tác nhân gây bệnh khác nhau sẽ có cách chữa trị và sử dụng kháng sinh trị viêm họng khác nhau.

Thông thường, khi mắc bệnh viêm họng do virus thì người bệnh sẽ tự khỏi sau 5 – 7 ngày mà không cần dùng tới sự hỗ trợ điều trị từ kháng sinh viêm họng. Mặt khác kháng sinh không có công dụng diệt virus, do đó sử dụng kháng sinh trong trường hợp này không phát huy được tác dụng.

Có nên dùng thuốc kháng sinh chữa viêm họng?

Còn một số ít trường hợp viêm họng do vi khuẩn (chiếm khoảng 20%), đặc biệt là liên cầu khuẩn (Streptococcus) tán huyết beta nhóm A gây ra thì bạn cần sự can thiệp của thuốc kháng sinh thì mới có thể chữa bệnh hữu hiệu nhất. Đồng thời, giúp phòng các biến chứng của bệnh viêm họng nguy hiểm như apxe amidan, apxe thành sau họng, viêm phế quản phổi,… có thể xảy ra.

Việc dùng thuốc kháng sinh không được khuyến khích trong điều trị viêm họng vì chúng có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn với dạ dày và gan. Bên cạnh đó, dùng nhiều thuốc kháng sinh cũng dẫn đến tình trạng nhờn thuốc, khó điều trị bệnh sau này.

Vì vậy, việc chữa viêm họng bằng kháng sinh chỉ được tiến hành khi có sự chỉ định của bác sĩ và phải tuân thủ nghiêm ngặt về liều lượng và thời gian sử dụng.

Viêm họng uống thuốc kháng sinh gì?

Kháng sinh chữa viêm họng có nhiều loại. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ kê đơn cho thích hợp. Một số loại kháng sinh thường được bác sĩ chỉ định bao gồm:

Thuốc kháng sinh dạng uống:

Nhóm kháng sinh đặc trị viêm họng dùng uống bao gồm Penicillin, Amoxillin, Roxithromycin… trong đó:

Thuốc kháng sinh chữa viêm họng dạng uống

Những loại kháng sinh trị viêm họng này có tác dụng hạn chế và tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, khi dùng kháng sinh viêm họng dạng uống này, bạn cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ và làm theo các hướng dẫn để hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc.

Thuốc kháng sinh dạng tiêm:

Penicillin G, benzathin A: Đây là thuốc kháng sinh trị viêm họng dạng tiêm bắp, được dùng ở những bệnh nhân không thể dùng được các loại thuốc dạng uống.

Erythromycin, ethyl succinat: kháng sinh trị viêm họng này được dùng để thay thế penicillin cho những người bị dị ứng với loại kháng sinh này.

Với những trường hợp bệnh đã diễn tiến nặng, thì kháng sinh dạng tiêm sẽ có tác dụng tốt hơn là thuốc uống. Do thuốc sẽ được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch, từ đó hỗ trợ điều trị các triệu chứng bệnh hiệu quả hơn, nhanh hơn. Các thuốc kháng sinh dạng tiêm thường được chỉ định là:

Thuốc kháng sinh chữa viêm họng có tác dụng tiêu đờm

Khi bị viêm họng, người bệnh luôn cảm thấy đau họng, khó chịu, kèm theo là các triệu chứng ho gió, ho khan, ho có đờm. Chữa viêm họng cần phải làm tiêu đờm, có thể dùng thuốc kháng sinh alphachymotrypsin làm loãng đờm, tiêu đờm.

Thuốc kháng sinh chữa viêm họng có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng

Trước khi dùng thuốc cần có sự chỉ định của bác sĩ

Các loại thuốc trong nhóm này gồm có corticoid và histamine. Đây là nhóm thuốc kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong trị bệnh viêm họng. Nhóm thuốc này được dùng trong trường hợp viêm họng do dị ứng.

Thuốc kháng sinh hạ sốt

Viêm họng do vi khuẩn người bệnh có biểu hiện sốt, do đó cần phải uống thuốc hạ sốt. Các loại thuốc hạ sốt có thể dùng: acetaminophen, ibuprofen.

Những tác dụng phụ của thuốc kháng sinh trị viêm họng

Đau đầu, chóng mặt: đồng thời gây cảm giác buồn nôn hoặc nôn, nghiêm trọng hơn có thể là gây sốt, nước tiểu sẫm màu, lú lẫn,….

Đau đầu là tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc kháng sinh Những lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh chữa viêm họng

Bên cạnh ưu điểm hiệu quả nhanh, dứt điểm gọn các triệu chứng viêm họng thì sử dụng thuốc kháng sinh đôi khi gặp những tác dụng phụ không mong muốn như:

Phải uống thuốc trị viêm họng theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa, không tự ý mua thuốc uống.

Không được dừng uống thuốc khi chưa hết liệu trình điều trị hoặc có sự cho phép của bác sỹ.

Không uống thuốc azithromycin hoặc cephalosporin khi nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn streptococcus.

Có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý kết hợp với tập luyên thể dục thể thao khoa học

Một chế độ ăn uống dinh dưỡng sẽ giúp bệnh của bạn mau khỏi hơn

Để việc chữa bệnh đạt hiệu quả cao nhất và phòng ngừa được những tác dụng phụ có thể xảy ra,người bệnh cần chú ý:

Điều trị viêm họng bằng các loại kháng sinh tự nhiên

Bên cạnh các loại thuốc kháng sinh nói trên, người bệnh có thể tìm đến các nguồn kháng sinh tự nhiên như: tỏi, gừng, mật ong, kinh giới… để chữa bệnh viêm họng.

Các loại kháng sinh này cho hiệu quả trị bệnh chậm hơn thuốc kháng sinh của Tây y khá nhiều. Tuy nhiên ưu điểm của nó là không gây tác dụng phụ và an toàn, lành tính, sử dụng được cho cả phụ nữ có thai, đang cho con bú và trẻ em.